Xem Nhiều 3/2023 #️ Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Lý # Top 9 Trend | Aimshcm.com

Xem Nhiều 3/2023 # Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Lý # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Lý mới nhất trên website Aimshcm.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CÁC LỚP XƯNG TỘI VÀ RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU

Tuổi này được gọi là tuổi khôn. Tuổi này quan trọng về cả ba mặt tâm lý, luân lý và tôn giáo. Chính Giáo hội cũng quy định : tới tuổi này trẻ có thể chịu các bí tích Hoà giải và Thánh thể1. Trí khôn nảy nở : -Biết đọc, biết viết.-Biết suy luận, giải thích các sự việc, nghĩa là biết so sánh, tìm thấy tương quan và tìm ra nguyên nhân.

Ví dụ : Trẻ suy luận : Chúa Giêsu chịu chết trên thánh giá vì yêu thương ta.-Thích học cái mới, cái lạ.2. Biết hướng nội : Tuổi này là thời hướng nội : hướng sự chú ý vào nội giới. Đây là lúc thuận lợi để khơi động đời nội tâm và tập cho trẻ cầu nguyện trong lòng.3. Lương tâm chớm nở : -Biết cái hay, cái dở-cái tốt, cái xấu.-Biết phân biệt phải trái.-Biết lý do của việc mình làm.4. Ý thức đến các giá trị : -Ý thức trách nhiệm của tình thương cha mẹ.-Ý thức sự tận tụy của thầy cô.-Ý thức giá trị của tình bạn : tri kỷ và trung tín.-Biết giữ gìn đồ đạc.-Thích trật tự ngăn nắp.5. Gia đình, xã hội : -Bắt đầu tập sống chung.-Sống êm ấm với nhau, thích chơi chung với nhau.6. Trách nhiệm : -Tinh thần trách nhiệm bắt đầu nảy nở.-Tuổi này hay đến xin việc và rất vui khi được giao việc.-Được cha mẹ, thầy cô trao việc cho, trẻ làm rất cẩn thận, nghiêm túc.Tóm lại : các đức tính tự nhiên bắt đầu nảy nở, thức tỉnh trong lứa tuổi này. Chúng ta có nhiệm vụ làm cho các đức tính ấy lớn lên và trổ sinh, giúp các em thành NGƯỜI và thành CON CHÚA.Tuổi này quan trọng đến nỗi Chúa nói : “Khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã ! Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã. Anh em hãy đề phòng” (Lc 17, 1-3).

1. Toàn bộ khối Sơ cấp bao trùm các bài dạy về : a. Chúa Ba Ngôi-Thiên Chúa trở nên thân thiết hơn các em. Ngài đến qua sự đối thoại bên trong và qua lời mời gọi của lương tâm.-Các em sẽ tin nhận Chúa Giêsu nhờ thái độ của bố mẹ và những người khác, nhất là thái độ cầu nguyện của giáo dân trong nhà thờ và của gia đình trong giờ kinh.b. Hội Thánh và đời sống con cái Chúa. Đời sống các Kitô hữu quanh đứa trẻ và lương tâm là hình ảnh sống động để chúng ta giới thiệu sự hiện diện của Chúa Thánh Thần và Hội Thánh.2. Nội dung chương trìnha. Giáo lý SƠ CẤP 1 : 7 tuổiChương trình Giáo lý SƠ CẤP 1 gồm bài 32 bài. Nội dung được phân chia như sau :

Lịch sử cứu độ : Từ tạo dựng đến Chúa Thánh Thần hiện xuống (23 bài : 3-17. 20-27)

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (3 bài : 28-30)

Cầu nguyện : (4 bài 18-19. 31-32 )

Riêng phần Luân lý, Phụng vụ và Bí tích, đặc biệt là Bí tích Giải tội và Thánh Thể sẽ được học ở năm sau là năm trực tiếp chuẩn bị cho các em Xưng tội và Rước lễ lần đầu. b. Giáo lý SƠ CẤP 2 : 8 tuổi.Chương trình Giáo lý Sơ cấp 2 gồm 33 bài. Nội dung được phân chia như sau :

Lịch sử cứu độ : Hội Thánh ( 8 bài : 1-3. 5-6. 8-10 )

Luân lý (9 bài : 11-19)

Phụng vụ và Bí tích (14 bài : 20-33)

Cầu nguyện (2 bài : 4, 7 )

Đây là năm chuẩn bị cho các em Xưng tội và Rước lễ lần đầu nên có một số địểm cần nhấn mạnh : – Luân lý : Tội lỗi (2 bài : 12-13)– Phụng vụ và bí tích : Nhấn mạnh về bí tích giải tội (6 bài 38-33) và bí tích Thánh Thể (5 bài : 23-27). Những bí tích khác như Thêm sức, Xức dầu bệnh nhân, Truyền Chức thánh và Hôn phối sẽ được học ở chu kỳ tiếp theo là chu kỳ Giáo lý Căn bản.Ngoài ra ở cuối sách học sinh có thêm phần phụ lục, giúp các em xét mình, xưng tội, dọn mình Rước lễ và cám ơn sau Rước lễ.

CHƯƠNG IIINHỮNG THÓI QUEN VÀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT Ở KHỐI SƠ CẤP

Sau 2 năm học Giáo lý ở khối Sơ cấp, các em học sinh phải đạt được các thói quen và yêu cầu sau đây :1. Về nếp sống đạo-Các kinh cần thuộc : từ kinh số 1-18 trong sách kinh nhỏ. Có thói quen đọc kinh tối, sáng (cá nhân hoặc với gia đình, liên gia ).-Có thói quen nói chuyện với Chúa hằng ngày : lúc vui lúc buồn.-Dự lễ tối thiểu : Chúa nhật và thứ năm hằng tuần.-Có thói quen tới nhà thờ : chào Chúa rồi mới đi làm việc khác.-Khi về nhà : Biết chào Chúa nơi bàn thờ.-Tham gia hội đoàn : giúp lễ, ca đoàn, đọc Sách Thánh.2. Về nhân bảna. Giao tế : -Gặp người lớn tuổi biết chào hỏi.-Về nhà biết chào : ông, bà, cha mẹ, anh chị em-(đi thưa về trình).-Vui vẻ đoàn kết và biết giúp đỡ bạn bè.-Có ý thức làm công việc bác ái phù hợp lứa tuổi : nhịn quà cho kẻ khó, giúp đỡ người già, tàn tật….-Có ý thức giúp đỡ gia đình : quét nhà, lau bàn, phụ dọn bàn ăn gia đình.-Không nói tục, không nói chuyện riêng trong lớp học Giáo lý, nhà thờ.b. Trí dục -Biết truyền đạt câu ngắn đủ ý, đúng văn phạm.-Mạnh dạn phát biểu và tập cầu nguyện tự phát trong lớp Giáo lý.-Viết đúng chính tả và văn phạm bài ghi ở vở Giáo lý.-Chữ viết sạch sẽ, ngay ngắn tiến tới viết đẹp (nét chữ nết người ).c. Thể mỹ-Hằng ngày có thói quen tắm rửa, đánh răng sau bữa ăn và khi ngủ dậy.-Có thói quen tập bài thể dục nhi đồng.-Quần áo luôn ngay ngắn sạch sẽ.-Tránh xem sách báo, tranh ảnh không tốt.-Chân tay sạch sẽ, móng tay cắt ngắn.-Tập họp nhanh, thẳng hàng và im lặng khi ra vào lớp Giáo lý.LƯU Ý : Các Giáo lý viên hãy phân phối và sắp xếp các yêu cầu này vào chương trình giảng dậy.

I. MỤC ĐÍCH VIỆC DẬY GIÁO LÝ. Dậy Giáo lý là trình bày Lời Thiên Chúa một cách đơn giản, cụ thể, sống động để giúp tín hữu biết và sống đức tin. Dậy Giáo lý không chỉ là truyền đạt kiến thức đức tin nhưng còn là và nhất là truyền thông sự sống của Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông huấn “Dậy Giáo lý” (Catechesi tradendae) đã viết : “Mục đích tối hậu của khoa dậy Giáo lý là làm cho con người không những tiếp xúc nhưng còn thông hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô : chỉ một mình Người có thể đưa ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Thần Khí và làm cho ta tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh” (số 5)

II. DIỄN TIẾN MỘT TIẾT DẬY GIÁO LÝ. Để đáp ứng được mục đích của việc dậy Giáo lý, chúng ta sẽ trình bầy một tiết Giáo lý theo diễn tiến chung cho tất cả các khối : Sơ cấp, Căn bản, Kinh Thánh và Vào đời sau đây : 1. Cầu nguyện khai mạc2. Dẫn vào Lời Chúa3. Công bố Lời Chúa4. Giải thích Lời Chúa5. Cầu nguyện giữa giờ ( theo đề tài Giáo lý) 6. Sinh hoạt Giáo lý7. Bài tập Giáo lý8. Sống Lời Chúa ( dốc lòng) 9. Cầu nguyện kết thúc.

III-PHÂN BỐ THỜI GIAN CHO MỖI PHẦN. ·Thời gian một tiết dậy Giáo lý cho khối Sơ cấp : 50 phút. ·Phân bố : 1. Cầu nguyện đầu giờ : 2 phút. 2. Dẫn vào lời Chúa. * Ôn bài cũ : 3 phút. * Dẫn vào Lời Chúa : 2 phút. 3. Công bố Lời Chúa : 2 phút. 4. Giải thích Lời Chúa : 20 phút. * Dẫn giải Lời Chúa : 3 phút. * Giải thích câu hỏi thưa : 17 phút. 5. Cầu nguyện giữa giờ : 3 phút. 6. Sinh hoạt Giáo lý : 10 phút. 7. Bài tập Giáo lý : 5 phút. 8. Quyết tâm sống : 2 phút. 9. Cầu nguyện kết thúc : 2 phút.

IV-DẬY GIÁO LÝ THEO LỨA TUỔI. Khi dậy Giáo lý theo diễn tiến trên, chúng ta hãy lưu ý đến đối tượng học sinh của mình là lứa tuổi Sơ cấp (7-8 tuổi) để việc giảng dậy phù hợp với lứa tuổi này.Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết về điều này như sau : “Các phương pháp phải thích nghi với lứa tuổi, với văn hoá…” (THLBTM số 44 ) -và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã viết : “Khoa dậy Giáo lý có bổn phận thiết yếu phải tìm ngôn ngữ thích hợp với trẻ nhỏ và thanh niên thời nay nói chung và cho rất nhiêu lớp người khác …. ” (THDGLsố 59 ).Vì vậy, trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ tuần tự trình bầy các phương pháp giảng dậy theo diễn tiến một tiết dậy Giáo lý (9 bước) nói trên phù hợp với lứa tuổi khối Sơ cấp (7-8 tuổi).

Giáo lý trình bầy Lời Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa chính là nội dung của Giáo lý. Lời này được ghi lại trong Thánh Kinh. Do đó, Thánh Kinh là nguồn mạch chủ yếu của Giáo lý. Giáo lý càng gần Thánh Kinh bao nhiêu càng phong phú và vững chắc bấy nhiêu. Bộ sách Giáo lý phổ thông nói chung và sách Giáo lý khối Sơ cấp nói riêng luôn luôn khởi đầu bằng một đoạn Thánh Kinh liên hệ tới đề tài Giáo lý. Trong chương này chúng ta nói tới phương pháp trình bầy phần ” Dẫn vào Lời Chúa” và phần “Công bố Lời Chúa” trong tiết dậy Giáo lý.

I. Dẫn vào Lời Chúa

II. Công bố Lời Chúa

1. Cách công bố Lời Chúa : Cũng như phần phụng vụ Lời Chúa trong Thánh lễ, người đọc Lời Chúa làm như sau :-Mở đầu bằng : “Bài trích sách. ..”-Đọc Lời Chúa.-Kết thúc bằng : ” Đó là Lời Chúa.”2. Người công bố Lời Chúa và người nghe Lời Chúa. Chính Giáo lý viên hay một em học sinh công bố Lời Chúa. Để việc công bố Lời Chúa được nghiêm trang và sinh hiệu quả, người công bố phải xem trước đoạn Lời Chúa. Khi công bố, người đọc đọc to tiếng, chậm rãi, rõ ràng. Giáo lý viên cho các em học sinh đứng nghiêm trang, yên lặng và cung kính khi nghe Lời Chúa.3. Giá sách để sách Thánh Kinh. -Nên có một giá sách để sách Thánh Kinh :-Sau khi công bố xong, quay sách Thánh Kinh hướng về các em học sinh.-Nên có một ngọn nến cháy sáng và một bình bông nhỏ ở giá sách để các em ý thức sự hiện diện của Chúa nơi Lời Chúa và chính Chúa đang nói với các em.Bài tập : Hãy chọn một bài Giáo lý (khối Sơ cấp) và soạn phần “Dẫn vào Lời Chúa” bằng một câu chuyện

I. Mục đích

Việc giải thích Lời Chúa có mục đích giúp các em học sinh hiểu bài Giáo lý. Mục này có hai phần :– Dẫn giải đoạn Lời Chúa vừa công bố.– Giải thích câu hỏi thưa.

II. Dẫn giải đoạn Lời Chúa vừa công bố

1. Đặt câu hỏi : Giáo lý viên đặt một số câu hỏi đơn giản để giúp các em hiểu và nắm bắt được ý chính của đoạn Lời Chúa vừa công bố và dẫn vào bài học Giáo lý.Ví dụ: Sách Giáo lý Sơ cấp 2, bài 20: Sống ngày Chúa Nhật– Lời Chúa : Cv 20, 7-12.– Dẫn giải Lời Chúa :Ngày thứ nhất trong tuần, các môn đệ họp nhau lại làm gì ? – (Bẻ bánh).·Bẻ bánh nghĩa là gì ? – ( ” Bẻ bánh” có nghĩa là dâng Thánh lễ để thờ phượng, tạ ơn Thiên Chúa).·Ngày thứ nhất trong tuần là ngày nào ? – (Ngày Chúa nhật )·2. Sử dụng sách “CHÚA NÓI VỚI TRẺ EM” trong phần dẫn giải Lời Chúa : Để giúp các em hiểu đoạn Lời Chúa vừa công bố, chúng ta sử dụng sách “Chúa nói với trẻ em” vào phần dẫn giải Lời Chúa vì sách này được trình bầy rất đơn sơ và dễ hiểu phù hợp với trình độ của các em. Chúng ta sử dụng sách này như sau :Chọn trong sách ” Chúa nói với trẻ em” đoạn có ý nghĩa tương tự với đoạn Lời Chúa vừa công bố.·Dựa vào đoạn Lời Chúa vừa công bố và đoạn sách “Chúa nói với trẻ em” đặt một số câu hỏi giúp các em nhận ra và hiểu ý chính của đoạn Lời Chúa đó.·Cho các em đọc chung đoạn sách trong sách “Chúa nói với trẻ em”.·Gợi vài ý dẫn vào bài học Giáo lý.·Ví dụ : Giáo lý Sơ cấp I, bài 3 :Thiên Chúa yêu thương tạo ra mọi loài mọi vật.Lời Chúa : St 1, 1.Sách “Chúa nói với trẻ em” : Đoạn 1, trang 3-4.Dẫn giải : Em nào cho anh (chị) biết Lời Chúa các em vừa nghe được trích từ sách nào ? (Sách Sáng thế)·Tại sao lại gọi là sách Sáng Thế?·(Vì những chương đầu của sách này nói đến việc Thiên Chúa dựng nên vũ trụ và loài người ).·Đoạn Lời Chúa chúng ta vừa nghe cho chúng ta biết điều gì ?·(Thiên Chúa đã dựng nên mọi loài mọi vật và mọi loài mọi vật Chúa dựng nên đều tốt đẹp).·Bây giờ tất cả chúng ta cùng nhau đọc chung đoạn Lời Chúa nói về việc Thiên Chúa tạo dựng mọi loài mọi vật trong sách “Chúa nói với trẻ em”, đoạn 1, trang 3.·

A. Phương pháp quy nạp :1. Định nghĩa : Phương pháp quy nạp là phương pháp lý luận, khởi đầu bằng cách nghiên cứu các trường hợp riêng biệt – kế đến là rút ra kinh nghiệm – sau cùng là đưa ra định luật chung. Ví dụ :– Trường hợp riêng biệt : Ông A, ông B, Ông C đã chết.– Rút ra kinh nghiệm : Ông A, ông B, ông C là người.– Định luật chung : Vậy mọi người đều phải chết.Như thế phương pháp quy nạp đi từ một vài câu chuyện hay từ các điều kiện cụ thể trong đời sống thực tế tới trừu tượng, từ những trường hợp riêng lẻ tới tổng quát, từ dễ tới khó, từ dưới lên trên.2. Đức Giêsu đã theo phương pháp quy nạp khi giảng dậy. Đức Giêsu thuật lại một câu chuyện, một dụ ngôn, rồi sau đó rút ra bài học :Câu chuyện Bài học(khởi điểm) (kết luận)Ví dụ : – Người Samaritanô tốt lành ® Mọi người là anh em (Lc10, 29-37).– Chuyện người con phung phá ® Thiên Chúa đón nhận tội nhân (Lc 15, 11-32 ).3. Áp dụng phương pháp quy nạp vào việc dậy Giáo lý.Để áp dụng phương pháp quy nạp vào việc dậy Giáo lý, ta theo 3 bước sau :1.Giới thiệu : Đưa ra một sự kiện, một câu chuyện làm khởi điểm.2.Giải thích : Từ sự kiện, câu chuyện đó rút ra những ý tưởng, những bài học thích hợp.3.Áp dụng : Đem ý tưởng, bài học đó vào đề tài Giáo lý mình muốn trình bầy.Ví dụ : Sơ cấp 2 bài 23.Chúa Giêsu là bánh hằng sống nuôi dưỡng linh hồn ta.1.Giới thiệu : Mỗi ngày gia đình chúng ta họp nhau 3 lần để dùng bữa : bữa sáng, bữa trưa, bữa tối.2.Giải thích : Bữa ăn cần thiết để nuôi sống thân xác, bồi dưỡng sức khoẻ, làm cho ta lớn lên.3.Áp dụng : Linh hồn ta cũng cần được nuôi sống, bồi dưỡng, lớn lên. Chúa Giêsu lấy chính Mình, Máu Ngài để nuôi dưỡng linh hồn ta. Thánh Thể thật là của ăn vì chính Chúa đã nói : ” Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây…” (Ga 6, 51).4. Lưu ý : Vì phương pháp quy nạp đi từ cái riêng biệt tới cái tổng quát, tới chân lý – từ việc đưa ra một sự kiện làm khởi điểm, rút ra những ý tưởng và đem ý tưởng đó vào đề tài Giáo lý, nên khi dậy Giáo lý khối Sơ cấp, Giáo lý viên giải thích trước và cho các em đọc câu hỏi thưa sau. Câu hỏi – thưa là đề tài Giáo lý mình muốn trình bày.

1. Định nghĩaTrực quan là phương pháp giảng dậy qua việc cho học sinh tự quan sát sự việc hoặc giáo cụ. Giáo lý viên sẽ dùng phát vấn (đặt câu hỏi) để xây dựng bài học và đúc kết bài học.Như vậy, phương pháp trực giác là quan sát cụ thể qua giác quan (sờ mó, nếm, ngửi, nghe…) để rồi suy nghĩ, rút kinh nghiệm, đúc kết thành bài học. Châm ngôn của phương pháp trực giác là : VẬT TRƯỚC LỜI SAU.Phương pháp này đặc biệt thu hút các em học sinh Giáo lý ở lứa tuổi này, vì các em có kinh nghiệm cảm tính (khả giác ) và suy nghĩ bằng hình ảnh chứ chưa lĩnh hội được các ý niệm và chưa lý luận cách trừu tượng được.

2. Giá trị của phương pháp trực quan

a. Người xưa nói : ” Trăm nghe không bằng mắt thấy”, ý nói học hiểu bằng quan sát trực tiếp vẫn hơn việc nghe mô tả. Ví dụ : Bản tin qua truyền thanh khó được ghi nhận hơn bản tin trên báo hoặc truyền hình.b. Việc tái hiện các nhân vật, các biến cố xa xưa trong lịch sử hoặc ở những nơi xa xôi trên thế giới sẽ dễ giúp các em cảm nghiệm, hiểu và khơi động tâm tình.c. Việc ngắm nhìn các thực tại trần thế sẽ giúp các em hình dung phần nào các thực tại cao siêu.

3. Đức Giêsu sử dụng phương pháp trực quan để giảng dậy.

Khi đi rao giảng, nhiều lần Đức Giêsu đã sử dụng phương pháp trực quan để giảng dậy.a. Sử dụng sự việc đang diễn ra để giảng dậy.– Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ (Ga 13, 4-20 )Để diễn tả cái chết của mình, để cử hành trước cái chết của mình, trong Bữa Tiệc Ly Chúa Giêsu đã cúi mình xuống rửa chân cho các tông đồ. Việc rửa chân này diễn tả Ngài hạ mình xuống trong cái chết nhục nhã trên thập giá để làm cho nhân loại được sạch, để mang ơn cứu độ đến cho loài người.Để dậy các tông đồ bài học khiêm nhường phục vụ, Chúa Giêsu đã dùng việc Ngài rửa chân cho họ.– Đồng xu của bà goá nghèo (Mc 12, 41-44). Chúa Giêsu nói các môn đệ quan sát đám đông bỏ tiền vào thùng tiền dâng cúng Đền Thờ. Ngài nói với họ chú ý đến bà goá nghèo đang bỏ hai xu vào thùng tiền.Ngài dùng hình ảnh đó để dậy các môn đệ bài học về tấm lòng thành đối với Thiên Chúa.b. Sử dụng giáo cụ trực quan để giảng dậy. – Nộp thuế cho Cêsarê (Mt 22). -Giáo cụ : đồng tiền Roma.-Khai thác giáo cụ : Chúa Giêsu nói với những người hỏi Ngài phải nộp thuế cho ai quan sát và trả lời câu hỏi : “Hình in trên đồng tiền là hình của ai ?”-Rút ra bài học : Điều gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.– Giáo huấn về phục vụ (Mc 9, 33-37).Để dậy các môn đệ sống khiêm nhường, phục vụ khi họ tranh cãi với nhau ai trong họ là người lớn nhất, Đức Giêsu đã dùng một giáo cụ trực quan để giảng dậy.Giáo cụ trực quan : một em bé.·Khai thác giáo cụ : Sau khi dậy các môn đệ muốn làm lớn phải làm người phục vụ mọi người, Ngài dùng giáo cụ trực quan là đặt một em nhỏ vào giữa các môn đệ và nói : “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy, và ai đón tiếp Thầy thì không phải là đón tiếp Thầy nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 37 ). Chúa Giêsu muốn nói em nhỏ là tượng trưng cho người sứ giả khiêm nhường, người khiêm tốn phục vụ, người đó là người được Thiên Chúa đồng hoá và người ấy là người lớn nhất vì giống Thiên Chúa.·* Rút ra bài học : Hãy sống khiêm nhường phục vụ.

4. Sử dụng phương pháp trực quan trong việc dậy Giáo lý

a. Các sự việc : – Các sự việc đang xảy ra : Trong Hội Thánh, xã hội, những sự kiện đời sống quanh ta, những việc các em vừa chứng kiến hoặc nghe bàn tán….– Chương trình đang được phát sóng trên truyền hình: bộ phim đang thu hút các em, tin tức thời sự nóng bỏng.– Các hoạt cảnh, bài hát, trò chơi.Giáo lý viên sử dụng các sự việc này để hướng dẫn các em học sinh qua phát vấn, đàm thoại và dẫn đến bài học.b. Các giáo cụ trực quan : – Bảng : Tập sử dụng bảng cho hiệu quả. Nếu chữ viết bảng chưa đẹp, Giáo lý viên nên luyện tập.– Vẽ trực tiếp trên bảng : vẽ sơ đồ, vẽ các hình đơn giản để minh hoạ khi giảng bài.– Bản đồ : Bản đồ Việt Nam (các giáo phận ), bản đồ Đất Thánh, bản gia phả của Chúa Giêsu.– Tranh ảnh : Chúng ta hiện có rất nhiều tranh ảnh Kinh Thánh, Giáo lý, các ảnh đạo… Giáo lý viên cố gắng tìm kiếm và sử dụng các loại tranh ảnh phù hợp với đề tài Giáo lý để dậy Giáo lý. Chúng ta có thể sử dụng tranh ảnh để : dẫn vào Lời Chúa, giải thích Lời Chúa, làm bài tập Giáo lý.– Rối vải cầm tay, rối bằng giấy bìa.– Các vật dụng quanh ta, trong đời sống øhằng ngày như cành hoa, nhánh cây nhỏ, quyển sách, cây đàn…Tóm lại, trực quan là phương pháp đạt hiệu quả sư phạm cao do tính cụ thể, sống động và nguyên lý thực nghiệm của nó. Tuy nhiên đối việc sử dụng giáo cụ, không nên dùng quá nhiều nhưng cần phối hợp giáo cụ với bài giảng Giáo lý cho nhịp nhàng đúng lúc, đúng đề tài. Đặc biệt các Giáo lý viên luôn ghi nhớ rằng mục tiêu của tiết dậy Giáo lý là gặp gỡ Chúa, hiểu biết, yêu mến và sống theo lời Ngài, nên phương pháp trên chỉ mang ý nghĩa chuyển tải và hỗ trợ, đừng quá lệ thuộc.

Bài tập : Hãy chọn một bài Giáo lý (khối Sơ cấp) và soạn phần giải thích Lời Chúa gồm dẫn giải Lời Chúa và và giải thích các câu hỏi thưa theo các phương pháp quy nạp và phát vấn.

II. Các phần cầu nguyện.

1. Cầu nguyện đầu giờ. Phần cầu nguyện đầu giờ có mục đích giúp các em đi vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong giờ học Giáo lý và xin Chúa soi sáng cho mình trong giờ học Giáo lý bằng cách :– Đặt các em trước sự hiện diện của Chúa.– Giúp các em nhận ra giờ học Giáo lý chính là thời gian đến với Chúa để học cùng Chúa.– Xin Chúa thánh hoá giờ học Giáo lý.2. Cầu nguyện giữa giờ. Phần cầu nguyện giữa giờ là đỉnh cao của giờ học Giáo lý. Lý do là sau khi các em đã nghe Chúa nói qua việc công bố Lời Chúa, sau khi đã hiểu Lời Chúa qua phần giải thích Lời Chúa, sau khi đã tiếp nhận lời mời gọi của Chúa với tất cả tâm tình, các em hẳn có nhiều điều muốn nói với Chúa, muốn đi vào cuộc đối thoại trang nghiêm thân tình với Chúa.Do đó nội dung của phần cầu nguyện giữa giờ này là ý chính, là nội dung của bài Giáo lý.3. Cầu nguyện cuối giờ.Phần cầu nguyện cuối giờ có hai mục đích :– Cảm ơn Chúa vì Chúa đã soi sáng trong giờ học vừa xong.– Xin Chúa giúp các em sống điều quyết tâm đã chọn.Nếu như phần cầu nguyện đầu giờ giúp các em từ cuộc sống bước vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong giờ học Giáo lý, thì phần cầu nguyện cuối giờ hướng các em đến một cuộc gặp gỡ khác với Chúa qua việc sống Lời Chúa trong đời thường. Nhờ đó, toàn bộ cuộc sống các em sẽ là lời cầu nguyện liên lỉ.

III. Thái độ, điều kiện và các cách thức cầu nguyện.

Để các giây phút cầu nguyện trong giờ Giáo lý không trở thành những thói quen không hồn, tránh được sự nhàm chán … Chúng ta cần lưu ý tới những điểm sau đây :1. Thái độ khi cầu nguyện : Khi giúp các em học sinh cầu nguyện, chúng ta giúp các em xác định vị trí của mình đối với Chúa.a.Thái độ thụ tạo : Mọi sự, kể cả bản thân ta, đều do Chúa tác tạo, yêu thương, nên thái độ phải có là tôn thờ, ca tụng, biết ơn Chúa.b.Thái độ người con : Nhờ Chúa Giêsu, ta được trở nên con Thiên Chúa. Tâm tình của người con là yêu mến, kính trọng, vâng phục, phó thác vào Cha như tâm tình của Chúa Giêsu.c.Thái độ tội nhân : Tin vào Thiên Chúa là Cha, Đấng giầu lòng thương xót, nhân từ, ta hãy khiêm tốn xin ơn tha thứ.1.Để sống các thái độ này, khi cầu nguyện, ta hãy có tâm tình : thờ lạy, cám ơn, xin lỗi và xin ơn.

2. Điều kiện để cầu nguyện :

a. Đặt mình trước sự hiện diện của Chúa. Cầu nguyện là gặp gỡ, nói chuyện với Chúa, nên cần ý thức sự hiện diện của Chúa.b. Có gì để nói với Chúa. Cầu nguyện không phải là đọc vài kinh hay hát một bài cho xong nhưng cần có vài điều riêng tư trong lòng để nói với Chúa : Chúc tụng, cám ơn, xin lỗi, xin ơn.c. Lắng nghe tiếng Chúa nói : Đây là điều thường bị “bỏ quên”. Cầu nguyện còn là lắng nghe Chúa nói nữa. Chúa nói với ta qua lương tâm, những câu Thánh Kinh …

3. Các cách thức diễn tả tâm tình khi cầu nguyện :

a.Cử điệu : Khi giúp các em cầu nguyện, Giáo lý viên nên tùy theo nội dung của lời nguyện giúp các em có những cử chỉ thích hợp để diễn tả tâm tình của các em, để tạo sự nghiêm trang, hiệu quả khi cầu nguyện.oBái gối – cúi mình : có ý nghĩa chúng con thật nhỏ bé trước Thiên Chúa cao cả.oTrong lúc cầu nguyện :§Nâng hai tay lên : khẩn khoản nài xin.§Nhắm mắt : Chú trọng đến Đấng vô hình không thể nhìn thấy bằng đôi mắt thể xác.§Im lặng : Lắng nghe tiếng Chúa thôi thúc trong tâm hồn.§Chắp tay : Chúa ban cho con tất cả, này toàn thân con hướng về Chúa.b.Lời nói : Nên dựa vào những câu Kinh Thánh hoặc phụng vụ để dọn lời cầu nguyện vì khi cầu nguyện cần có ơn Chúa Thánh Thần. Nếu không có Thánh Thần dậy dỗ và gợi cảm hứng, chúng ta không thể thưa với Thiên Chúa một điều gì có ý nghĩa. Chính Chúa Thánh Thần đã dùng Thánh Kinh và Phụng vụ dậy ta thưa chuyện với Chúa.

4. Các hình thức cầu nguyện trong giờ Giáo lý :

a. Lặp lại to tiếng lời cầu nguyện. Giáo lý viên đọc lớn từng câu ngắn, các em lặp lại to tiếng. Hình thức này thích hợp với lứa tuổi khối Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) (7-8 tuổi).b. Lặp lại thầm lời cầu nguyện. Giáo lý viên đọc lớn từng câu ngắn, các em lặp lại thầm câu đó. Đây là cách tập cho các em nội tâm hoá lời cầu nguyện. Hình thức này hợp hơn cho khối Thêm sức (Căn bản) (9-12 tuổi). Thỉnh thoảng cũng nên áp dụng cho các em khối Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) để các em tập làm quen với cách cầu nguyện trong tâm hồn.c. Học sinh âm thầm cầu nguyện theo lời nguyện của GLV. Giáo lý viên chậm rãi đọc lời cầu nguyện, các em âm thầm cầu nguyện theo, các em cùng thưa khi kết thúc lời nguyện : Amen. Hình thức này thích hợp khối Thêm sức (Căn Bản) (9-12 tuổi ), khối Bao đồng (Kinh Thánh), Vào Đời (13-18 tuổi ).d. Đọc một kinh hay hát một bài hát thích hợp với nội dung bài Giáo lý.Nhưng xin lưu ý : Giáo lý viên hướng ý trước, gợi tâm tình trước rồi các em mới đọc kinh hay hát. Hình thức này phù hợp với các lứa tuổi : Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) – Thêm sức (Căn bản) – Bao đồng (Kinh Thánh) – Vào đời.e. Giáo lý viên gợi tâm tình và đề tài, các em tự cầu nguyện theo tâm tình và đề tài đó. Giáo lý viên kết thúc, các em thưa : Amen.Hình thức này thích hợp với các em khối Thêm sức (Căn bản) (9-12 tuổi ), khối Bao đồng (Kinh Thánh) (13-15 tuổi ), Vào đời (16-18 tuổi ). Thỉnh thoảng nên áp dụng cho các em khối Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) để các em tập cầu nguyện tự phát.f. Cầu nguyện theo kiểu lời nguyện tín hữu trong Thánh Lễ :Giáo lý viên gợi ý, một số em học sinh xướng lên một ý nguyện, có thể dọn sẵn hoặc tự phát, tất cả thưa : Xin Chúa nhận lời chúng con – Giáo lý viên kết thúc bằng lời nguyện chung, các em cùng thưa Amen – Hình thức này thích hợp với các em lứa tuổi Bao đồng (Kinh Thánh) và Vào đời (13-18 tuổi ).

IV. Giáo lý viên dậy các em cầu nguyện

1. Chính Giáo lý viên hãy trở nên người cầu nguyện. Cầu nguyện nhiều trong cuộc sống, nuôi dưỡng tâm tình cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc.2. Thái độ của Giáo lý viên khi dậy cầu nguyện.Giáo lý viên cần có thái độ trang nghiêm “như thấy Đấng vô hình” khi giúp các em cầu nguyện. Vì thế, Giáo lý viên không thể giúp các em cầu nguyện trong thái độ giận dữ, quát nạt, lo ra, lăng xăng … Hãy bộc lộ nét trang nghiêm, cung kính trong lúc cầu nguyện. Nếu cần sửa lỗi các em đang lo ra, chơi giỡn trong lúc cầu nguyện thì chờ đến khi đã cầu nguyện xong.3. Tập cho các em cầu nguyện theo diễn tiến :·Đặt mình trước mặt Chúa.·Gợi tâm tình : thờ lạy, cảm ơn, xin lỗi, xin ơn.·Tìm lời và cử chỉ thích hợp để diễn tả tâm tình.

V. Cách soạn một lời cầu nguyện.

Sơ cấp 1, bài 12 : Chúa Giêsu làm việc.

Nêu danh xưng : Lậy Chúa, Lý do xin ơn : Chúa đã tạo dựng chúng con có trí khôn để suy nghĩ, có trái tim để yêu thương, có đôi tay để làm việc, có đôi chân để chạy nhảy vui chơi, đến trường, đến nhà thờ, có miệng lưỡi để nói năng, để ca tụng Chúa.

Nội dung ơn xin : Xin cho chúng con biết dùng những khả năng Chúa ban,

Chủ đích ơn xin.

-Chủ đích 1 : để làm vinh danh Chúa -Chủ đích 2 : và giúp ích cho mọi người.

Kết thúc : Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

BÀI TẬP : Hãy chọn một bài Giáo lý ( khối Sơ cấp ) và soạn một lời nguyện gồm 5 phần vừa học

I. Mục đích. 1. Thư giãn, giải trí. Ở lứa tuổi Khối Xưng tội, Rước lễ (Sơ cấp) (7t-8t) các em chỉ có thể cầm trí được 20 phút, tối đa là 30 phút. Do đó, sau khi các em đã gặp Chúa trong phần cầu nguyện giữa giờ, nghĩa là đã học nửa giờ Giáo lý, Giáo lý viên cho các em sinh hoạt để tâm trí các em được thư giãn, thoải mái hầu có thể tiếp tục học hỏi tốt hơn ở nửa giờ Giáo lý còn lại.2. Tạo bầu khí vui tươi trong giờ Giáo lý. 3. Ghi nhớ nội dung bài Giáo lý : Phần sinh hoạt cũng nhằm giúp các em ghi nhớ những gì vừa học. Do đó, phần sinh hoạt này phải được lựa chọn phù hợp với nội dung bài Giáo lý.

II. Các hình thức sinh hoạt trong giờ Giáo lý. Vì thời gian sinh hoạt rất ngắn, khoảng 10 phút và không gian sinh hoạt là phòng học, nên chúng ta chỉ lựa chọn các hình thức sinh hoạt đơn giản sau đây : băng reo, trò chơi nhỏ, bài hát.

1. Băng reo.Chúng ta sáng tác băng reo dựa theo nội dung bài Giáo lý và theo một trong các thể loại sau đây :a. Các em lặp lại theo người điều khiển, thêm cử điệu. Ví dụ :-Người điều khiển (NĐK ) : Chúa đã về.-Tất cả ( TC ) lặp lại : Chúa đã về ( vỗ tay 3 cái ).-NĐK- Trên phố phường – TC : lặp lại ( bước vào 3 bước )-NĐK- Trên làng quê – TC : lặp lại ( bước thêm vào 3 bước ).-NĐK- Trên quê hương Việt Nam – TC : bước ra 6 bước, vung tay và la lên : A !b. Người điều khiển chỉ nói 1 câu, tất cả nói câu khác.Ví dụ :-NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Trong anh ( chỉ vào người bên cạnh ).-NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Trong tôi (chỉ ngực ).-NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Trên trời ( chỉ lên trời ).-NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Khắp mọi nơi (xoay tròn ).c. Người điều khiển nêu nhiều ý, tất cả chỉ lặp lại một câu : Ví dụ :-NĐK : Ta vui – TC : bên nhau ( vỗ tay 2 cái ).-NĐK : Ta múa – TC : bên nhau ( vỗ lên đùi hai cái ).-NĐK : Ta hát – TC : bên nhau ( hai tay lên vai ).-NĐK : Tất cả – TC : bên nhau.d. Người điều khiển nêu ý, tất cả cùng bổ túc ý. Ví dụ :-NĐK : Sống trên đời – TC : Phải có bạn ( giơ hai tay hình chữ V ).-NĐK : Không có bạn – TC : Buồn chết đi ( chắp tay ).-NĐK : Nhưng phải chọn – TC : Bạn tốt ( nắm tay người bên cạnh ).

BÀI TẬP :Chọn một bài Giáo lý ( khối Sơ cấp ) và sáng tác hay chọn một băng reo, một trò chơi, một bài hát phù hợp với nội dung bài Giáo lý

BÀI TẬP Hãy chọn một bài Giáo lý trong khối Sơ cấp và soạn phần bài tập theo một trong các loại bài tập trên

Tiết Dạy Tạo Hình Lớp Mẫu Giáo Lớn Số 1 Theo Phương Pháp ” Lấy Trẻ Làm Trung Tâm”

Để hoạt động tạo hình có hiệu quả cao, ngoaì việc phải chuẩn bị về nguyên vật liệu tạo hình và chuẩn bị vốn kinh nghiệm tạo hình cho trẻ thì giáo viền cần chú trọng phương pháp hướng dẫn lấy “trẻ làm trung tâm” . Trong hoạt động tạo hình cô giáo cần để trẻ tự thể hiện, cô luôn là người động viên, khuyến khích trẻ sáng tạo. Trẻ cần được động viên để thể hiện ý muốn, tình cảm, cảm xúc và những hiểu biết của trẻ đối với sự vật, trẻ muốn được lựa chọn: trẻ muốn làm gì, làm thế nào để đạt được và sản phẩm đó sẽ như thể nào? . Cô giáo nên tăng cường các câu hỏi gợi ý giúp trẻ củng cố và áp dụng những kinh nghiệm đã lĩnh hội trong các hoạt động khác nhau, động viên trẻ suy nghĩ, tìm cách giải quyết vấn đề của trẻ. Hãy để tự trẻ miêu tả những gì trẻ biết và có thể làm. Đôi khi các câu hỏi không rõ mục đích của cô giáo sẽ làm trẻ phân tán suy nghĩ và không thể hịên được ý tưởng cũng như sự sáng tạo của trẻ. Đặc biệt, cô giáo không lạm dụng các sản phẩm mẫu và làm mẫu, cô giáo làm mẫu càng ít và càng ít sử dụng vật mẫu sẽ càng kích thích trẻ tư duy và tìm kiếm cách thể hiện. Thực tế cho thấy các sản phẩm mẫu sẽ làm tê liệt các cảm xúc đã có trước của trẻ, làm giảm tính tích cực hoạt động trí tuệ của trẻ, vì các hoạt động cần thiết để tạo hình đã được làm mẫu đầy đủ, trẻ luôn ghi nhớ, bắt chước. Nếu có trường hợp yêu cầu làm mẫu, phải gợi ý chứ đừng nên làm ngay, cần tạo tình huống để trẻ làm giúp: Bắt đầu xé từ đâu, xé hình gì, xé như thế nào,…Khi trẻ làm cô nên cất mẫu đi đế trẻ được sáng tạo theo suy nghĩ và cảm xúc của riêng trẻ. Trong khi làm mẫu, cô luôn coi trọng quan điểm của trẻ, mẫu của cô chỉ gợi ý cho các ý tưởng của trẻ. Mục đích chính của việc cho trẻ làm quen với hoạt động mỹ thuật tạo hình nhằm giúp trẻ tăng trí thông minh, khả năng ghi nhớ, nhận biết môi trường, hình khối và màu sắc trong tự nhiên. Không những thế, qua những bài tập, tác phẩm, trẻ còn có cơ hội được khám phá thế giới, học hỏi về những kiến thức căn bản, trả lời cho vô số câu hỏi của trẻ ở lứa tuổi này. Một số tính cách của trẻ như sự kiên trì, nhẫn nại, ham học hỏi cũng dần được hình thành, duy trì hay phát triển.

Với phương pháp dạy học ” lấy trẻ làm trung tâm” trẻ đã biết nêu lên ý tưởng cho các sản phẩm của mình và có những kĩ năng cần thiết trong hoạt động tạo hình.

Giáo Lý Nhà Phật Không Dạy Xem Tử Vi, Cúng Sao Giải Hạn

Nhiều ý kiến cho rằng cúng sao giải hạn đang bị hiểu sai, bị lạm dụng. Không ít con nhang, đệ tử quẳng tiền bạc và thời gian vào những khóa lễ chẳng khác gì hối lộ với thần linh.

Chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội), trong những ngày đầu xuân lúc nào cũng đông nghìn nghịt người. Sân chùa không đủ chứa xe, người dân quanh đó “khoanh vùng” luôn một dãy phố Tây Sơn, trưng biển trông giữ xe máy dài cả cây số.

Ngày rằm tháng Giêng, tại ngôi chùa này có rất đông người dân xếp hàng làm lễ. Với khuôn mặt mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại vì chen lấn, chị Nguyễn Thị Hoa (sinh năm Quý Sửu 1973) đi giải sao cho chồng (sinh năm Tân Hợi 1971) tâm sự: ” Tôi xem sách tử vi thấy nói chồng năm nay mang sao xấu nên phải đi đến chùa làm lễ giải hạn là để giảm bớt vận hạn.

Nhà neo người lại có con nhỏ nên chồng ở nhà trông cháu còn tôi đi một mình. Do lượng người đông đúc quá nên tôi phải xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ mới làm lễ xong”. Thầy cúng thành người môi giới “hối lộ”

Theo ghi nhận của PV, tại chùa Một Cột ước tính có hàng nghìn người tìm đến làm lễ cúng sao giải hạn. Thời tiết Thủ đô khá lạnh nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng đứng từ ngoài đường đến cổng chùa để khấn vái, cầu nguyện. Lực lượng cảnh sát đã được huy động đến đảm bảo trật tự trên các tuyến phố.

Tại đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc cũng tấp nập phật tử thập phương đến lễ bái. Rất khó tìm một chỗ đứng trong chính điện để làm lễ.

Dòng người đến dự lễ dâng sao giải hạn đứng tràn cả ra đường, nhà chùa làm lễ phải bắc loa ra đường để các thân chủ nghe được thầy chủ lễ xướng tên mình và tên thân nhân trong danh sách dài dặc. Có người chờ lâu quá, ngủ gật, xướng đến tên mình không nghe, sau lễ, thắc mắc ầm ĩ.

Tại nhiều chùa chiền, các cô đồng, thầy cúng còn bán cho các đệ tử những cuốn lịch tra cứu tử vi, bói toán cũng như hướng dẫn thể thức hành lễ cúng sao giải hạn với những tai ương – điềm lành mà các sao soi chiếu. Và dĩ nhiên, những tai ương đều có thể tan đi nếu chịu khó cúng sao giải hạn.

Ngoài lễ vật, các thân chủ phải bỏ tiền, “chùa vắng” thì vài chục nghìn đồng, “chùa đông” phải mất đến hàng trăm nghìn đồng. Mà nhà chùa không làm lễ cúng sao cho 1 người, đã làm là cúng cho cả trăm tín chủ. Còn muốn thầy đến nhà làm lễ thì cực khó.

Qua trò chuyện với PV, những người làm lễ cúng sao giải hạn bày tỏ rằng họ chấp nhận bỏ ra một khoản tiền, cúng một ít lễ vật để mua sự bình an, may mắn. Đã có không ít gia đình vì lo sợ trúng sao xấu mà tốn hàng chục triệu đồng làm lễ giải hạn.

Kèm theo đó là lực lượng giao tiếp trung gian của những ông đồng, bà cốt, thầy cúng, thầy bói, thầy phù thủy, thầy địa lý… mọc lên nhan nhản như nấm sau mưa với đủ mọi kiểu dạng. Với mục đích thực dụng vụ lợi, vốn được xem như bản năng nguyên thủy của thế giới tâm linh, giờ đây việc cúng lễ trên chùa, đền, phủ, đình, điện, miếu dường như đã trở thành một thao tác mang đậm tính thương mại tín ngưỡng.

“Hối lộ” Phật…lỗ hổng lớn về tư duy

Các nhà chiêm tinh xưa cho rằng, mỗi năm mỗi người đều có 1 trong 9 sao chiếu. 9 vị sao này, Phạn ngữ gọi là Navagraha, Trung Hoa dịch là Cửu diệu, trong đó có 3 sao tốt gồm Thái Dương, Thái Âm, Mộc Đức; 3 sao xấu có La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch và 3 sao trung là Vân Hớn, Thổ Tú, Thủy Diệu. Những ai trúng vào sao xấu chiếu mạng thì phải cúng giải hạn mới… hết hạn.

Trao đổi với PV Báo GĐ&XH, Thượng tọa Thích Quảng Tùng, Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Hải Phòng thẳng thắn chia sẻ: “Trong giáo lý nhà Phật không hề bao gồm việc cúng dâng sao giải hạn. Chủ yếu đó là quy luật nhân quả, gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Mọi sự thành bại của con người là do duyên nghiệp báo và công đức tu tập từ chính mỗi cá nhân tạo ra. Nếu quá mê muội mà cho rằng, cứ cúng sao thì có thể giải hạn được thì đó là một sự ngộ nhận sai lầm”.

Qua thực tế ghi nhận tại nhiều ngôi chùa, đầu năm người dân khắp nơi đến chen chúc, xếp hàng, bê trên tay những lễ lạt, mâm cao cỗ đầy cùng với đó là cơ man nào ngựa giấy, voi giấy, hình nhân thế mạng… để nhờ các thầy làm lễ cúng dâng sao giải hạn cho cả gia đình. Bản thân Thượng tọa Thích Quảng Tùng cho rằng, những hình ảnh này có lẽ không còn là hiện tượng mà đã quá phổ biến trong những năm gần đây.

Dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu Phật học, Thượng tọa Thích Quảng Tùng bộc bạch: “Dường như một bộ phận người dân vẫn còn cuồng tín quá dẫn đến mê tín. Không phân biệt được đâu là tín ngưỡng dân gian, đâu là quan niệm Phật học. Tại sao cứ phải cúng lễ xa hoa lãng phí mà không tự tu tâm công đức, năng làm điều thiện. Nếu suy nghĩ thần Phật chịu để cho các phật tử “hối lộ” bằng vàng bạc, tiền mã thì đây là lỗ hổng lớn về tư duy”.

Cũng theo chia sẻ của vị trụ trì chùa Phúc Lâm tại Hải Phòng, thời đại ngày nay khi mà cuộc sống con người đã sung túc hơn thì lại xuất hiện lại tư tưởng “phú quý sinh lễ nghĩa”.

“Tôi thường xuyên nhắc nhở, góp ý với các phật tử khi tới chùa lễ về việc cúng giải hạn. Có một số người còn yêu cầu bằng được nhà chùa làm lễ dâng sao giải hạn cho nhưng tôi thẳng thắn phân tích và từ chối đáp ứng yêu cầu này. Nói rồi, họ cũng dần hiểu ra và đành phải mang đồ lễ về. Có người mua hàng mã, lễ lạt tốn kém đến cả vài chục triệu đồng nhưng cũng phải mang về nhà”, thầy Thích Quảng Tùng bày tỏ.

“Đầu năm thường là lễ cầu phúc, cầu quốc thái dân an, dân khang vật thịnh. Tùy vào nhân duyên, nghiệp báo mà sẽ có những kết quả tương ứng ở hiện tại và tương lai. Còn thực tế, vẫn còn rất nhiều người dân vẫn còn mê đắm vào vòng lẩn quẩn của các tín ngưỡng thờ cúng. Đi đâu cũng thấy lạm dụng, mua bán thần thánh. Tôi cho rằng, nếu cơ quan chức năng có những hành động quyết liệt, đúng đắn sẽ hạn chế được việc người dân tốn tiền của, thời gian vào việc cúng sao giải hạn mà mục đích chỉ giải quyết vấn đề tâm lý”, Thượng tọa Thích Quảng Tùng nói thêm.

Bên cạnh đó, Thượng tọa Thích Quảng Tùng cũng nhìn nhận, hiện tại có không ít người tự xưng là thầy cúng để làm dịch vụ cúng sao giải hạn thuê nhằm trục lợi trên sự cuồng tín của một bộ phận người dân mê muội. Thực ra, nghi thức cúng sao giải hạn này bắt nguồn từ Đạo Giáo của Trung Quốc và du nhập về Việt Nam. Để cúng theo đúng nguyên tắc cũng đòi hỏi phải có bài bản chứ không đơn giản, bát nháo như hiện nay.

“Chùa Phúc Lâm (Hải Phòng) mấy năm qua không tổ chức cúng sao giải hạn nhưng bà con họ vẫn làm ăn sinh sống ổn định, yên vui. Chúng tôi không cúng sao giải hạn cho bất cứ phật tử nào cả mà chỉ khuyên răn họ nên tư duy một cách đúng hướng, theo giáo lý nhà Phật”, vị Thượng tọa cho biết thêm.

Phật giáo không có lễ cúng sao giải hạn

Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho hay: “Trong các nghi lễ Phật giáo được quy định, không có lễ cúng sao giải hạn. Về giáo lý, Đức Phật hoàn toàn không nói về những ngôi sao chiếu mạng, Ngài chỉ dạy chúng ta về luật nhân quả. Muốn biết thời quá khứ chúng ta đã gieo nhân gì thì cứ nhìn cái quả mà chúng ta đang lãnh. Muốn biết tương lai chúng ta ra sao thì cứ nhìn cái nhân chúng ta đang gieo trồng trong hiện tại”.

“Gieo nhân nào thì gặt quả đó, thành công hay thất bại trong đời người không do ai ban phát mà do chúng ta tạo nên từ trước. Tất cả đều do tâm, khẩu và ý của con người tạo ra, nhân duyên xấu do chúng ta tạo tất sẽ trổ quả xấu, những nhân duyên tốt sẽ trổ quả tốt.

Sở dĩ trong nhà chùa có làm lễ cầu an đầu năm cho phật tử với mong ước gia đình quý phật tử được an lạc hạnh phúc, nhưng khi làm lễ cầu an là tụng kinh Phật, nương theo lời dạy của Ngài mà hành trì theo để cuộc sống được bình an hơn. Mọi người hãy nghĩ đơn giản rằng, đầu năm đi lễ chùa để cầu an, hướng thiện là đủ rồi”, thầy Thích Chơn Thiện chia sẻ.

(Theo Gia Đình & Xã Hội)

Phương Pháp Chọn Ngày Giờ Tốt Căn Bản

Lấy Can Chi của ngày so đối với can chi của tuổi mình , cốt yếu để biết ngày tốt căn bản mà mình đã chọn khởi công đó có hạp với tuổi mình không. Nếu gặp 1 cách tốt thì cộng thêm 1 điểm , gặp 1 cách xấu thì trừ đi 1 điểm

CHƯƠNG IV : Những việc hạp và kỵ của 12 trực

1/. Trực Kiên :_ Nên làm : Xuất hành đặng lợi , sanh con rất tốt _ Kiêng cữ : Động đất ban nền , đắp nền , lót giường , vẽ họa chụp ảnh , lên quan nhậm chức , nạp lễ cầu thân , vào làm hành chánh , dâng nạp đơn sớ , mở kho vựa , đóng thọ dưỡng sanh

_ Nên làm : Động đất , ban nền đắp nền , thờ cúng Táo Thần , cầu thầy chữa bệnh bằng cách mổ xẻ hay châm cứu , hốt thuốc , xả tang , khởi công làm lò nhuộm lò gốm , nữ nhân khởi đầu uống thuốc _ Kiêng cữ : Đẻ con nhằm Trực Trừ khó nuôi , nên làm Âm Đức cho nó , nam nhân kỵ khời đầu uống thuốc

3/. Trực Mãn : _ Nên làm : Xuất hành , đi thuyền , cho vay , thâu nợ , mua hàng , bán hàng , đem ngũ cốc vào kho , đặt táng kê gác , gác đòn đông , sửa chữa kho vựa , đặt yên chỗ máy dệt , nạp nô tỳ , vào học kỹ nghệ , làm chuồng gà ngỗng vịt _ Kiêng cữ : lên quan lãnh chức , uống thuốc , vào làm hành chánh , dâng nạp đơn sớ

4/. Trực Bình : _ Nên làm : Đem ngũ cốc vào kho , đặt táng , gắn cửa , kê gác , gác đòn đông , đặt yên chỗ máy dệt , sửa hay làm thuyền chèo , đẩy thuyền mới xuống nước , các vụ bồi đắp thêm ( như bồi bùn , đắp đất , lót đá , xây bờ kè…) _ Kiêng cữ : Lót giường đóng giường , thừa kế tước phong hay thừa kế sự nghiệp , các vụ làm cho khuyết thủng ( như đào mương , móc giếng , xả nước…)

_ Nên làm : Động đất , ban nền đắp nền , làm hay sửa phòng Bếp , đặt yên chỗ máy dệt ( hay các loại máy ) , nhập học , nạp lễ cầu thân , nạp đơn dâng sớ , sửa hay làm thuyền chèo , đẩy thuyền mới xuống nước , khởi công làm lò nhuộm lò gốm _ Kiêng cữ : Mua nuôi thêm súc vật

_ Nên làm : lập khế ước , giao dịch , động đất ban nền , cầu thầy chữa bệnh , đi săn thú cá , tìm bắt trộm cướp _ Kiêng cữ : xây đắp nền-tường

7/. Trực Phá : _ Nên làm : Hốt thuốc , uống thuốc _ Kiêng cữ : Lót giường đóng giường , cho vay , động thổ , ban nền đắp nền , vẽ họa chụp ảnh , lên quan nhậm chức , thừ kế chức tước hay sự nghiệp , nhập học , học kỹ nghệ , nạp lễ cầu thân , vào làm hành chánh , nạp đơn dâng sớ , đóng thọ dưỡng sanh

8/. Trực Nguy : _ Nên làm : lót giường đóng giường , đi săn thú cá , khởi công làm lò nhuộm lò gốm _ Kiêng cữ : xuất hành đường thủy

9/. Trực thành : _ Nên làm : Lập khế ước , giao dịch , cho vay , thâu nợ , mua hàng , bán hàng , xuất hành , đi thuyền , đem ngũ cốc vào kho , khởi tạo , động Thổ , ban nền đắp nền , gắn cửa , đặt táng , kê gác , gác đòn đông , dựng xây kho vựa , làm hay sửa chữa phòng Bếp , thờ phụng Táo Thần , đặt yên chỗ máy dệt ( hay các loại máy ) , gặt lúa , đào ao giếng , tháo nước , cầu thầy chữa bệnh , mua trâu ngựa , các việc trong vụ nuôi tằm , làm chuồng gà ngỗng vịt , nhập học , nạp lễ cầu thân , cưới gã , kết hôn , nạp nô tỳ , nạp đơn dâng sớ , học kỹ nghệ , khởi công làm lò nhuộm lò gốm , làm hoặc sửa thuyền chèo , đẩy thuyền mới xuống nước , vẽ tranh , bó cây để chiết nhánh _ Kiêng cữ : Kiện tụng , phân tranh

10/. Trực Thâu :_ Nên làm : Đem ngũ cốc vào kho , cấy lúa gặt lúa , mua trâu , nuôi tằm , đi săn thú cá , bó cây để chiết nhánh _ Kiêng cữ : Lót giường đóng giường , động đất , ban nền đắp nền , nữ nhân khởi ngày uống thuốc , lên quan lãnh chức , thừa kế chức tước hay sự nghiệp, vào làm hành chánh , nạp đơn dâng sớ , mưu sự khuất lấp

11/. Trực Khai :_ Nên làm : Xuất hành , đi thuyền , khởi tạo , động thổ , ban nền đắp nền , dựng xây kho vựa , làm hay sửa phòng Bếp , thờ cúng Táo Thần , đóng giường lót giường , may áo , đặt yên chỗ máy dệt hay các loại máy , cấy lúa gặt lúa , đào ao giếng , tháo nước , các việc trong vụ nuôi tằm , mở thông hào rảnh , cấu thầy chữa bệnh , hốt thuốc , uống thuốc , mua trâu , làm rượu , nhập học , học kỹ nghệ , vẽ tranh , khởi công làm lò nhuộm lò gốm , làm chuồng gà ngỗng vịt , bó cây để chiết nhánh. _ Kiêng cữ : Chôn cất

12/. Trực Bế : _ Nên làm : xây đắp tường , đặt táng , gắn cửa , kê gác , gác đòn đông , làm cầu tiêu. khởi công lò nhuộm lò gốm , uống thuốc , trị bệnh ( nhưng chớ trị bệnh mắt ) , bó cây để chiết nhánh _ Kiêng cữ : Lên quan lãnh chức , thừa kế chức tước hay sự nghiệp , nhập học , chữa bệnh mắt , các việc trong vụ nuôi tằm

CHƯƠNG VI : Các cách tốt và xấu của Ngũ Hành Nạp Âm

Ngũ hành là 5 hành : Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ. Trong lịch ngày nào cũng có ghi 1 hành Nạp Âm cho ngày ấy , như ngày Ất Mùi có ghi hành Kim , ngày Bính Thân có ghi hành Hỏa…vv… Nói về năm , tháng , ngày , giờ thì gọi là Hành như nói về tuổi con người thì Nạp Âm gọi là Mạng. Tỷ như ngày Ất Mùi là hành Kim , nhưng người tuổi Ất Mùi ta nói là Mạng Kim. Nói chung chỉ khác nhau về Danh xưng. Trong Ngũ Hành Nạp Âm , lấy 2 hành so đối với nhau có 4 cách : Tương Sanh(tốt) , Tỷ Hòa(tốt) , Tương Khắc (xấu) , Tương Tranh(xấu). Các Can : Giáp , Bính , Mậu , Canh , Nhâm thuộc Dương các Can : Ất , Đinh , Kỷ , Tân , Quý thuộc Âm

1/. Ngũ hành tương sanh_ Kim với Thủy gặp nhau gọi là Tương sanh , tốt Thí dụ như tuổi Giáp Tý , mạng Kim gặp ngày Nhâm Thìn hành Thủy là tương sanh ( nếu luận kỹ hơn thì ta còn tính đến Nạp Âm của ngày và nạp Âm của tuổi cái nào sinh cái nào. Nếu như trường hợp này là TA sinh NGÀY , không khỏi có Tiết Khí , là tượng thất thoát ) _ Thủy với Mộc gặp nhau gọi là Tương sanh _ Mộc với Hỏa gặp nhau gọi là Tương sanh _ Hỏa với Thổ gặp nhau gọi là Tương sanh _ Thổ với Kim gặp nhau gọi là tương sanh

2/. Ngũ hành tỷ hòa _ Không luận Âm Dương ( của Can ) , Thổ với Thổ gặp nhau gọi là LƯỠNG THỔ THÀNH SƠN Như Canh Ngọ Thổ gặp Kỷ dậu Thổ vậy _ Dương Mộc với Âm Mộc gặp nhau gọi là LƯỠNG MỘC THÀNH LÂM ( hoặc THÀNH VIÊN ) tùy theo đó là Mộc gì , nếu là cây nhỏ sao thành rừng được , chỉ là vườn thôi , nhưng nói chung cái nào cũng là tốt Như Mậu Thìn gặp Tân Mẹo ( Mậu Dương , Tân Âm ) vậy _ Dương Thủy với Âm Thủy gặp nhau gọi là LƯỠNG THỦY THÀNH GIANG Như Bính Tý Dương Thủy gặp Quý Tị Âm Thủy vậy _ Dương Hỏa với Âm Hỏa gặp nhau gọi là LƯỠNG HỎA THÀNH VIÊM Như Bính Thân Dương Hỏa gặp Kỷ Mùi Âm Hỏa vậy

3/. Ngũ hành tương khắc_ Kim với Mộc gặp nhau gọi là Tương khắc ( như dùng dao chặt cây , 1 là cây đứt , 2 là mẻ dao , có khi cả 2 ) Như Nhâm Thân Kim gặp Nhâm Ngọ Mộc _ Mộc gặp Thổ là Tương khắc ( cây hút hết dưỡng chất trong đất rồi thì cây cũng lần lần tàn úa thôi ) _ Thổ gặp Thủy là Tương khắc ( đất ngăn nước , nhưng nước chảy cũng lỡ đất ) _ Thủy gặp Hỏa là Tương khắc ( nước dập tắt lửa , lửa làm khô cạn nước ) _ Hỏa gặp Kim là Tương khắc ( lửa đốt chảy kim loại , kim loại đè tắt lửa )

4/. Ngũ hành tương tranh _ Không luận Âm Dương : Kim với Kim gặp nhau là LƯỠNG KIM KIM KHUYẾT ( 2 dao chặt vào nhau tất phải mẻ vậy ) Như Quý Dậu gặp Tân Hợi _ Dương Mộc với Dương Mộc , Âm Mộc với Âm Mộc gặp nhau gọi là LƯỠNG MỘC TẮC CHIẾT _ Dương Thủy với Dương Thủy , Âm Thủy với Âm Thủy gặp nhau gọi là LƯỠNG THỦY THỦY KIỆT . _ Dương Hỏa với Dương Hỏa , Âm Hỏa với Âm Hỏa gặp nhau gọi là LƯỠNG HỎA HỎA DIỆT. LẬP THÀNH NGŨ HÀNH NẠP ÂM CHO 60 HOA GIÁP

Bạn đang xem bài viết Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Lý trên website Aimshcm.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!