Xem Nhiều 1/2023 #️ Tiến Sĩ Nhữ Đình Toản Và Họ Nhữ Với Quê Hương Hoạch Trạch Và Đường An (Phần 2) # Top 7 Trend | Aimshcm.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tiến Sĩ Nhữ Đình Toản Và Họ Nhữ Với Quê Hương Hoạch Trạch Và Đường An (Phần 2) # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiến Sĩ Nhữ Đình Toản Và Họ Nhữ Với Quê Hương Hoạch Trạch Và Đường An (Phần 2) mới nhất trên website Aimshcm.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhữ Công Chấn (1751-1805) là con trai thứ 4 của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, cháu nội tiến sĩ Nhữ Tiến Hiền, chắt nội tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng, hậu duệ đời thứ 10 của tiến sĩ Thuỷ Tổ Nhữ văn Lan. Đỗ Hoàng giáp, Thiếu tuấn khoa thi Đinh sửu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông[19]. Làm quan triều Lê đến chức Lại Phiên[20], Hữu Thị Lang Bộ Lễ, sau có ra làm quan triều Tây Sơn – Quang Toản. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú trong phần nhân vật chí viết: “Con trai thứ tư của Ông (Nhữ Đình Toản) là Nhữ Công Chấn, năm 22 tuổi đỗ Hoàng Giáp năm Nhâm Thìn (1772) thi hội, thi đình đều đỗ thứ hai (dưới Hồ Sĩ Đống – quê Quỳnh Lưu) là người ít tuổi nhất, giỏi nhất khoa thi ấy”. Nhữ Công Chấn tham gia quan trường từ khá sớm. Theo sắc phong cho Ông ngày 24 tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 30 (1769): “Sắc Đường An huyện, Hoạch Trạch xã, Hoằng Tín đại phu Nhữ Công Chấn. Vi dĩ hương thí trúng tứ trường…”, tức ông đỗ hương cống năm 1769, khi đó 19 tuổi và được bổ dụng làm quan với chức “Quang Lộc tự Tự thừa”[21] (hàm chánh thất phẩm). Theo nội dung sắc phong ngày 6 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 39 (1778) cho mẹ của ông: “Sắc Đường An huyện Hoạch Trạch xã Phạm Thị Dao vi dĩ phụng sai Hải Dương An Quảng đẳng sứ đốc đồng hàn lâm viện hiệu lý Nhữ Công Chấn thân sinh mẫu chuẩn tứ phong ấm chính phu nhân…”, thì thời điểm năm 1778 Ông đang làm Đốc đồng xứ Hải Dương – An Quảng. Năm Nhâm Dần (1782), là Lễ Bộ Hữu Thị lang, Nhập nội thị Thiêm sai[22], Ông cùng nhóm đại thần như Hoàng Đình Bảo, Trịnh Kiều… phò giúp Trịnh Cán lên ngôi Chúa theo cố mệnh của Chúa Trịnh Sâm. Tháng 12, kiêu binh tam phủ nổi dậy, Trịnh Cán bị phế truất, lập Trịnh Khải làm chúa. Nhữ Công Chấn khi này đang giữ chức Lại Phiên cùng các quan phò giúp Trịnh Cán bị bãi hết chức về làm dân thường. Năm 1786 Nhữ Công Chấn cùng với một số quan đại thần cũ được Nguyễn Hữu Chỉnh tâu với vua Lê Chiêu Thống cho mời ra làm quan nhưng Ông đã giả điên từ chối[23]. Khi đại thắng 29 vạn quân Thanh tại Thăng Long mùa xuân Kỷ Dậu (1789), Quang Trung – Nguyễn Huệ thống nhất cả xứ Đàng ngoài và trở thành một anh hùng lớn của thời đại. Nhữ Công Chấn và một loạt các nhà nho, trí thức tiến bộ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Bá Lan, Phan Lê Phiên, Nhữ Công Liêu… đã ra làm quan[24], giúp triều Tây Sơn quản lý đất nước. Tuy nhiên, năm 1792 vua Quang Trung lại đột ngột qua đời khi sự nghiệp chấn hưng đất nước vẫn còn dang dở. Năm 1802, Vương triều Tây Sơn – Quang Toản nhanh chóng sụp đổ. Sách “Quốc sử di biên” của Thám hoa Phan Thúc Trực soạn đầu triều Nguyễn viết: “Ngày 21 (tháng 6 năm Nhâm Tuất -1802) Thế Tổ (Gia Long) xa giá đến thành Thăng Long… Các quan văn võ triều Lê cũ và quan ngụy Tây (sơn) ra hàng, đến cửa quân bái yết, đều tùy tài bổ dụng. Tiến sĩ Bùi Huy Bích, Nhữ Công Điền (Chấn), Phạm Quý Thích, Lê Huy Du… Huy Bích, Công Điền (Chấn) đều từ về. Còn Quý Thích làm trợ giáo Bắc Thành…”[25]. Năm đó Nhữ Công Chấn cũng đã 52 tuổi, Ông làm chức quan gì trong triều đình Tây Sơn? từ năm nào? hiện chưa tìm được tài liệu ghi chép. Ngoài sự nghiệp khoa bảng, quan trường, Nhữ Công Chấn còn là một nhà thơ. Nhiều thơ phú của Ông còn được lưu giữ đến ngày nay và được đăng trong nhiều các sách sưu tầm, tuyển tập.

Ngoài 5 người đỗ đại khoa, truyền thống hiếu học của dòng họ Nhữ Hoạch Trạch còn phải kể đến trên 30 người đỗ hương cống – cử nhân trong thời phong kiến, như: Mười người con trai của tiến sĩ Nhữ Đình Toản, thì ngoài người đỗ cao nhất là hoàng giáp Nhữ Công Chấn, những người khác cũng rất giỏi giang, thành danh như: Nhữ Công Củng đỗ Hương cống làm Lễ Bộ viên ngoại lang[26]; Nhữ Công Vũ đỗ Hương cống, năm 1787 trúng Hội thí Tiến triều[27], làm Thừa chánh sứ Nghệ An, Ty phó hiến sát sứ, tước Hương Nguyên Hầu[28]; Nhữ Công Liêu đỗ Hương cống làm quan Hàn Lâm viện thị thư, Lại Bộ Tả Thị lang, tước Nghĩa Trạch Hầu triều Tây Sơn – Quang Toản[29]; Nhữ Công Quý đỗ Hương cống, làm tri huyện Gia Lộc, tri phủ Khoái Châu, năm Tân Mùi (1811) dâng sách “Hoàng Việt Thống chí”[30] lên vua Nguyễn v.v…

Để có được các thành công lớn trong khoa cử và quan trường như trên, điều cốt lõi phải nhắc đến trước tiên đó là nề nếp gia phong của đại gia đình họ Nhữ. Ở đó, những người bề trên không chỉ lấy giáo lý ra dạy bảo con cháu mà bản thân họ luôn là những tấm gương mẫu mực về sự hiếu học, về nhân cách sống, đạo làm người, đạo làm quan, xứng đáng là tầng lớp ưu tú trong xã hội, là “rường cột của quốc gia”. Và đó còn là một ý chí vượt khó, kiên trì vươn lên trong mọi hoàn cảnh khó khăn. Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng lớn lên tại Hoạch Trạch với ông bà ngoại, nguyên quán ở Lôi Dương “khi ông chưa thi đỗ, hào trưởng xã đó thường truy hỏi tiền thuế đóng rất bức bách, ông cùng quẫn quá không nộp được, xã trưởng liền tịch thu sách vở của ông đem bán lấy tiền”[31]. Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, dù con của quan đại thần nhưng trong một bài ký, ông viết: “Năm 14 tuổi văn tứ càng tiến thì gặp tang cha (1716). Vốn cha tôi xưa khi còn sống chỉ quen thanh bạch, nên khi mất để lại sản rất ít, nên từ đó việc học của tôi thật là lênh đênh”[32]. Bằng nghị lực vươn lên không ngừng, các ông đều trở thành các đại khoa danh tiếng. Tiến sĩ Nhữ Đình Toản và những nhà khoa bảng họ Nhữ đã học hỏi được từ tổ tiên, từ quê hương Hoạch Trạch, Đường An những giá trị văn hoá tốt đẹp trong đó có truyền thống hiếu học, khoa bảng, đồng thời tiếp tục củng cố, hoàn thiện nâng lên trở thành một trong các điểm sáng nhất về việc học và đi đôi với đó là đưa các tư tưởng của Thánh hiền đến với đời. Chính những thành công vượt bậc đó lại là một tấm gương mới, một bài học lớn cho các thế hệ tiếp sau phấn đấu và không ngừng phát huy, tạo lập nên một vùng quê giầu truyền thống văn hóa, hiếu học và khoa bảng vào trong số bậc nhất cả nước mang tên Hoạch Trạch – Đường An.

Công Lao Quốc Lão Nhữ Đình Toản

Thứ năm – 14/01/2021 10:26

Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Họ Nhữ Việt Nam đăng nguyên văn bài của ông Nhữ Đình Phượng – trình bày tại Lễ Khánh thành Nhà thờ Quốc Lão Công:

Bài viết đề cập 3 vấn đề: 1. Thân thế và sự nghiệp của ông. 2. Những đóng góp của ông với đất nước, quê hương. 3. Tổ chức hội thảo khoa học cấp nhà nước về ông. I. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TIẾN SỸ THƯỢNG THƯ NHỮ CÔNG TOẢN. – Ông sinh ngày 6/4/1703 (năm Quý Mùi) – Giỗ ngày 16/2/1773 (năm Quý Tỵ), thọ 71 tuổi. – Nguyên quán: Xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, Phủ Thượng Hồng, Đạo Xứ Đông. Nay thuộc thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, Bình Giang, Hải Dương. – Khi còn nhỏ tên húy là Ban, tên chữ là Thượng Chân tên đi thi là Nhữ Đình Toản. Về sau chúa Trịnh yêu quý cho cải tên là Nhữ Công Toản. – Ông thuộc con nhà dòng dõi khoa bảng lớn ở xứ Đông. + Là con trai thứ 3 của tiến sỹ thượng thư bộ Hình Nhữ Đình Hiền. + Là cháu nội của tiến sỹ thượng thư bộ công Nhữ Tiến Dụng. + Là anh em con chú con bác ruột với Bảng Nhãn, Đông các đại học sỹ, Hiến sát xứ Nhữ Trọng Thai(1) và bà Lưỡng Quốc Quế hộ thượng quận phu nhân, Nhữ Thị Nhuận(2). + Là cha đẻ của Hoàng Giáp, Hữu Thị Lang Bộ Lễ, Nhữ Công Trấn và 6 quan Trung khoa khác gồm: Đình Thường – Công Củng – Công Vũ – Công Liêu – Công Bảo – Công Quý. Đều đỗ hương cống, làm quan từ tri Huyện – tri Phủ đến Tả (Hữu) thị Lang (như thứ trưởng ngày nay)(3). – Ông có 9 bà thê, sinh hạ được 14 người con. (10 nam, 4 nữ). – Ông là hậu duệ đời thứ 9 của tiến sỹ thượng thư Bộ Hộ Nhữ Văn Lan (đỗ tiến sỹ 1463), sau được phong làm “Thượng đẳng Phúc Thần” làng An Tử Hạ. Nay thuộc xã Kiến Thiết, Tiên Lãng, Hải Phòng. – Chức vụ trước khi về hưu: + Trung Quân Đô Đốc Phủ. + Tả Đô Đốc.

Chú thích: (1) Chữ

(2) Bà là Hậu thần làng Mộ Trạch – Tân Hồng – Bình Giang (3) Thời gian này đất nước loạn lạc không thi Đình

+ Thượng Trụ Quốc (tương đương chức Tể tướng chỉ sau Vua Lê chúa Trịnh). – Khi về hưu được đặc ban: + Quốc Lão. + Tước Thái Bảo. * Sinh thời khi còn nhỏ: – 3 tuổi đã biết đọc sách. – 6 tuổi ông theo học Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo là bạn thân và làm quan cùng triều với cha ông.(1) – 7 tuổi đã biết làm câu đối. – Từ nhỏ ông đã thích tập võ, bắn cung, chơi nghiên bút, cha ông thường bắt ông đọc sách nhiều hơn. – Năm 14 tuổi cha mất khi đương chức, cha ông tuy là quan Thượng thư nhưng thanh liêm, chính trực, nhà đông con lên nghèo túng. – Năm 17 tuổi thi cấp huyện đứng đầu. – Năm 18 tuổi đang ở nơi học tập trung để chuẩn bị dự kỳ thi “Giám khoa tư văn” cấp khu vực thì bị mắc lỗi, bị kỷ luật cấm thi suốt đời. * Nguyên nhân như sau: – Anh rể ông là quan Đông các đại học sỹ: Phùng Cự người Đông Ngạc, Hà Nội đến trường thi làm nhiệm vụ của quan giám khảo. Có đến phòng em vợ chơi, thấy quyển bài tập của ông Toản có đề cập đến tình hình thời sự đương thời . Ông anh lấy bút viết thay, chê chính sách, mỉa mai triều đình câu: “Kim thượng phi Lê thị chi chính tông chi câu”. – Có nghĩa là: Nhà vua không phải chính tông họ Lê. – Có lẽ do sơ ý ông Toản không đọc lại quyển bài tập trước khi nộp bài. Các quan đọc được câu này rất bất bình, bắt ông về tra khảo. Trước đêm đó hai anh em ngủ cùng, không ai ngủ được. Anh rể bàn với em cách khai với các quan: “Văn tùy hứng mà đến, thơ tùy tình mà sinh. Đây là nơi trường học, nho sinh sai sót là lẽ thường”. Nghĩa là tự nhận mình làm sai, chứ không phải anh rể tự ý viết hộ. Ông trả lời “ông chỉ nghĩ đến việc nghĩa chứ không nghĩ đến phúc họa”. Cuối cùng triều đình kỷ luật ông, cấm thi suốt đời. Ông rất buồn, về nhà họ hàng, làng xóm khinh rẻ. 8-9 năm học tập bỗng phút chốc tan thành mây khói, ông càng quyết tâm học tập. – Năm 21 tuổi theo học Quan Tham Chính – Thổ Hoàng Ân Thi.

Chú thích: (1) Ông Đăng Đạo, đỗ năm 1683 theo gia phả họ Nguyễn – Từ Sơn – Bắc Ninh. (Sách Tiên Hoài Phả Ký).

– Năm 24 tuổi làm đơn xin ân xá không được chấp thuận, ông phẫn uất bỏ nhà đi tu (vùng Ân Thi). Chùa ông tu bị hư hỏng nặng, kỳ mục, quan lại xã ấy có nhờ ông viết 1 bài phả khuyến, kêu gọi nhân dân thập phương công đức sửa chùa. – 2 năm sau cậu ông trên đường về kinh đi qua đọc thấy bài văn phả khuyến hay, muốn tìm hiểu ai là người viết. Dân làng cho hay của 1 cậu học trò người làng Hoạch Trạch, ông cậu nhờ người tìm gặp. Hai cậu cháu trò truyện mới biết rõ đầu đuôi, cậu khuyên ông về nhà đi học chuẩn bị cho kỳ thi tới. – Năm 27 tuổi nhờ có bố vợ làm đơn xin ân xá ông mới được miễn tội, trở về nhà đi học tiếp. Quan tỉnh, quan huyện biết ông được đi thi trở lại, bèn tính tiền phí phạt. Nhà có gì bán hết, ông anh rể mang đến cho 3 hốt bạc ông cũng không nhận. Kỳ thi khảo hạch cấp tỉnh lần ấy ông đỗ đầu, tiếng tăm lừng lẫy các thôn ấp. – Năm 29 tuổi ông dự kỳ thi Hương đỗ thứ 2, được bổ nhiệm chức quan “Cẩn sự tá lang” (một chức quan Võ). – Năm 31 tuổi thi Hội đứng thứ 3 (năm ấy nhà nước không tổ chức thi Đình). – Năm 34 tuổi thi hội đỗ đầu, gọi là Hội Nguyên (vào năm Bính Thìn 1736). Quyển viết dự thi hội năm đó, nay vẫn đang được lưu giữ tại viện Hán Nôm Hà Nội. (Chắc được dùng làm tài liệu giảng dạy cho các nho sinh). Năm đó dự thi Đình ông đỗ Tam giáp đồng tiến sỹ, thi xong phải nghỉ việc về nhà chịu tang mẹ đẻ. – Năm 36 tuổi (1738) hết tang ra nhậm chức quan “Tiến công thứ lang – kiêm cấp sự trung Bộ Lại (hàm lục phẩm, Triều đình Lê Trịnh bấy giờ có 9 phẩm cấp hàm của các quan). – Năm 37 tuổi được cử đi đốc đồng xứ Lạng Sơn, tăng cường cho các quan địa phương chống phản loại. – Năm 38 tuổi đi dẹp loạn ở xứ Đông, Phủ Thượng Hồng và Kinh Môn. Bắt được tướng giặc, phía Đông kinh thành đã bình yên. Được phong chức “Cẩn sự tá lang – Hàm lâm viện hiệu thảo”. – Cuối năm đó cử đi đánh hiệp đồng với tướng Nguyễn Nghiễm (cha đẻ Nguyễn Du) và Khổn Quận Công (con rể chúa Trịnh). 3 ông vừa chỉ huy đánh giặc, vừa làm thơ, có chung một tập thơ: “Trung quân liên vịnh tập”. – Năm 39 tuổi được cử đi đánh quân phản loạn Nguyễn Tuyển ở phía Bắc sông Hồng, bắt được nhiều tù, hàng binh. Ông bàn kế cùng tướng Nguyễn Nghiễm đang chỉ huy đánh ở Kim Động, Ân Thi. Ông chỉ huy một mũi thọc sâu, đánh vào vùng sau lưng địch ở Thanh Miện. Khi quân ta đánh mạnh ở Kim Động, giặc chạy quay lại phía sau bao vây quân ông 4 phía. Lính của ông phần nhiều là tân binh chưa qua trận mạc, bỏ chạy hết về phía Kim Động. Ông một mình một giáo, một voi tả xung hữu đột, đánh lại giặc. Đến khi trên người hơn chục vết thương thì bị bắt. Khi ông bị bắt làm tù binh, quân tướng giặc biết ông là bậc tướng tài tập trung nghe ông nói chuyện. Ông phân tích cặn kẽ tình hình chính sự của đất nước, giảng giải điều hay lẽ phải. Đặc biệt ông giảng về giáo lý, thuyết “Nhân quả” của nhà Phật cho mọi người nghe. Sau đó tướng sỹ quân giặc bó gươm, bó giáo, mác lại theo hàng quân triều đình. Khi về lại Kinh thành, ông được Triều đình cho nghỉ chữa trị thương tật. Được phong Ngự Sử Đạo Kinh Bắc, giám sát Ngự Sử Đạo Nam Sơn. + 41 tuổi được phong Hoằng Tín Đại Phu, Nhập nội thị. + 42 tuổi cử đi làm Tán lý quân vụ tỉnh Nghệ An. + 43 tuổi được thăng hàng Đại phu, Nhập nội thị, Công bộ Hữu Thị Lang (như Thứ trưởng ngày nay). – Được đặc ban thăng chức tước cho ông bà và cha mẹ. + 45 tuổi ông tu sửa gia phả lần cuối. – Được cử đi đánh giặc phía Đông nam Kinh Thành. Giữ chức: “Quận công đạo Đông Nam, sau được thăng Đặc Tiến Kim Tử, Vinh Lộc Đại Phu – Bồi Tụng – Công Bộ Tả Thị Lang; Hình Bộ Hữu Thị Lang. (Cùng một lúc giữ 2 chức Thứ trưởng của 2 bộ). Tước: Hầu – 48 tuổi chuyển sang chức Binh Bộ Tả Thị Lang. – Khi Minh Vương (chúa Trịnh Doanh) Thân chinh đi đánh phía Tây, ông được giao soạn thảo văn tế Thái miếu, ở lại trấn giữ Kinh Thành và phủ Chúa. – 52 tuổi được cử làm chủ khảo kỳ thi Hội. Tháng 11 năm đó cùng vua đi dự kỳ thi tuyển võ nghệ. Tháng 12 được cử làm tổng chỉ huy diễn tập hợp đồng binh chủng, thủy – bộ lớn ở bãi sông Hồng. Diễn tập thành công được vua khen: “Tướng sinh từ tướng, không hổ thẹn con nhà nòi”. – 53 tuổi được thăng Ngự Sử Đài, Đô Ngự Sử, kiêm Tế Tửu Quốc Tử Giám 2 khóa liền. – 56 tuổi thăng chức Thượng Thư Bộ Binh; Được Vua truy phong chức tước cho cụ, ông, bà, cha, mẹ. – 59 tuổi được cử đi cùng quan Nguyễn Nghiễm là Công Bộ Thượng Thư. Đi khảo sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước ở các địa phương. Cuối năm đó được Vua ủy quyền tiếp xứ thần nhà Thanh sang phong sắc cho Vua ta. Có bài thơ phú đối đáp rất hay khiến sứ thần nhà Thanh phải trọng nể. – 62 tuổi được bổ nhiệm lại chức Thượng Thư Bộ Binh, kiêm Hình Bộ Sự – Trung Quận Công. – 65 tuổi chúa Trịnh Doanh qua đời, quân phản loạn nổi lên chống lại, khắp nơi đất nước không được yên ổn. Chúa Trịnh Sâm mới lên ngôi, cử các tướng đi đánh đều thua trận. Chúa Trịnh Sâm trao cho ông chỉ huy toàn quyền thống lĩnh quân đội đi dẹp loạn. Trước khi xuất quân, ông thảo chiếu “Bình tây quân lệnh” có 43 điều. Xiết chặt kỷ luật quân đội, thưởng phạt tướng sỹ nghiêm minh. Sau đó cắt cử các tướng chỉ huy 5 hướng thủy – bộ cùng tiến. Tướng giặc là Nguyễn Cừ nghe tin ông xuất quân, bỏ chạy thẳng về Hương Sơn. Tướng sỹ quân phản loạn phần đông là con em nông dân, nghe tin quân tướng ông luôn hành động vì chính nghĩa, bênh vực cho quyền lợi của người dân nghèo. Đã tự ra hàng, hoặc tự giải tán không đối đầu với lính triều đình. Các địa phương được bình yên trở lại, ông thu quân về Kinh, tướng sỹ còn nguyên vẹn. – 66 tuổi được thăng Trung Quân Đô Đốc Phủ – Tả Đô Đốc – Thượng Trụ Quốc. – 69 tuổi do tuổi cao, dâng sớ xin Vua cho nghỉ hưu mấy lần mới được chuẩn y. Khi ông về hưu được Vua – Chúa tổ chức yến tiệc chiêu đãi trịnh trọng. Các quan, bạn bè tập trung ở cổng thành đưa tiễn, tặng quà, câu đối, bức trướng. Triều đình cho quân lính rước kiệu tháp tùng đưa ông về quê. Đây là một đặc ân của Triều đình đối với một quan đại thần về nghỉ hưu, chưa từng có tiền lệ. Nhà vua có 1 bài thơ 8 câu chữ Hán nôm, nhà Chúa có 1 đôi câu đối thêu trên lá cờ màu xanh cho rước theo đoàn về quê. Câu đối và bài thơ như sau: – Câu đối: Văn tiến sỹ, võ quận công, triều trung hiển hoạn Quốc trung thần, gia hiếu tử, thiên hạ hoàn danh Được dịch là: Vế 1: Văn học vị tiến sỹ, Võ ở bậc quận công, Làm quan lớn trong triều đình. Vế 2: Đối với nước là bậc trung thần, Đối với gia đình là người con hiếu thảo, Thiên hạ trao cái danh hiệu này cho ngài (Ý Chúa nói không phải Chúa tặng danh hiệu này mà dân tặng). – Bài thơ vua Lê tặng (tôi lược dịch như sau): Bấy lần gần gũi chốn vua thần Quê nhà yên ấm cuối tuổi xuân Hoa Quốc mấy tài thêu trên gấm Đôi triều (1) êm ả thế đồng cân Gian nan tỏ rõ người tri thức Việc nước quên mình chẳng tiếc thân Yêu mến người xưa ta vẫn nghĩ Bình yên việc nước nhớ thần quân. Ông về nghỉ chưa đầy năm, nhà nước nhiều việc, triều đình lại mời ông ra làm việc khoảng 1 năm nữa mới cho nghỉ hẳn.

Hải Dương, ngày 29 tháng 11 năm 2020 Nhữ Đình Phượng

Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Pharmacity Tuyển Dụng Dược Sĩ Bán Hàng Và Cửa Hàng Trưởng Nhà Thuốc Tây

* VỊ TRÍ 1: TUYỂN DỤNG DƯỢC SĨ BÁN HÀNG

1. Tất cả các quận HCM (ưu tiên sắp xếp làm việc gần nhà) 2. Dĩ An, Bình Dương. lương cứng + thưởng = 5 – 7 ( triệu/tháng) xoay ca – ngày làm 1 ca – Ca 1: 6am – 2pm, – Ca 2: 2pm – 10pm, – Ca 3: 3pm – 11pm, – Ca 4: 4pm – 12pm, 1 tháng nghỉ 2 ngày.

– Tư vấn, cắt liều cho khách hàng – Giữ nhà thuốc sạch sẽ, ngăn nắp, sắp xếp thuốc đúng vị trí. – Quản lý thuốc theo lô/date và tài sản trong nhà thuốc – Tuân thủ luật quy định của công ty và ngành dược – Làm việc xoay ca dưới sự sắp xếp của quản lý

– Nam/Nữ tốt nghiệp Trung cấp dược trở lên – Giao tiếp tốt, nhanh nhẹn, vui vẻ, nhiệt tình. – Ngoại hình ưu nhìn.

– Được đào tạo chuyên môn về kiến thức tư vấn cắt liều, phối hợp thuốc theo chuẩn của Bộ Y Tế. – Được tham gia BHXH, BHYT, BHTN theo qui định của nhà nước – Phép năm: 12 ngày/năm – Các chinh sách khác theo quy định của công ty

* VỊ TRÍ 2: TUYỂN DỤNG CỬA HÀNG TRƯỞNG NHÀ THUỐC TÂY:

Địa điểm làm việc: 1. Tất cả các quận HCM. 2. Dĩ An, Bình Dương.Tổng thu nhập: lương cứng + thưởng = 6 – 8 (tr/th)Thời gian làm việc: giờ hành chánh ( 8 – 17h30) nghỉ ngày chủ nhật

Mô tả công việc:– Kiểm tra giờ giấc làm việc nhân viên: giờ mở và đóng cửa nhà thuốc. -Kiểm tra thái độ và tinh thần làm việc của từng nhân viên nhà thuốc mình quản lý. -Nhắc nhở nhân viên đọc email hằng ngày để cập nhật thông tin từ BGĐ, Văn phòng và các chi nhánh trong hệ thống. -Họp nhân viên hằng tuần -Đào tạo, huấn luyện, kèm cặp nhân viên mới. -Hướng dẫn nhân viên sử dụng phần mềm -Tham gia hoạt động của công ty: Trang trí, thi đua vào các dịp lễ, Tết. -Hỗ trợ kho, chi nhánh khác khi cần giúp đỡ. -Làm bảng chấm công nhân viên nhà thuốc cuối tháng. – Phối hợp với Dược Sĩ Đại Học trong đợt kiểm traYêu cầu: – Tốt nghiệp Cao đẳng chuyên ngành dược. – Có kinh nghiệm 1- 2 năm cắt liều, tư vấn tại các nhà thuốc Tây – Đam mê với nghề, giao tiếp tốt, chịu khó. – Sử dụng được các phần mềm tin học văn phòng.Quyền lợi: – Được đào tạo chuyên môn về kiến thức tư vấn cắt liều, phối hợp thuốc theo chuẩn của Bộ Y Tế. – Được tham gia BHXH, BHYT, BHTN theo qui định của nhà nước – Phép năm: 12 ngày/năm – Các chinh sách khác theo quy định của công ty

Ứng viên vui lòng gửi trực tiếp Hồ sơ ứng tuyển về Phòng Hướng nghiệp HHE

Hoặc gửi (CV) qua email: quynhvnl@h.edu.vn (Ms. Quỳnh)

Lưu ý Tiêu đề: [NV-VI TRI 1-DUOC SI BAN HANG PHARMACITY ] – HỌ VÀ TÊN

[NV-VI TRI 2-CUA HANG TRUONG NHA THUOC TAY PHARMACITY ] – HỌ VÀ TÊN

Ms. Quỳnh – Chuyên viên Phòng Hướng nghiệp HHE ĐT: 0123 456 3185 – Mail: quynhvnl@h.edu.vn

Đường Đi Và Giờ Lễ Của Nhà Thờ Con Gà

Nhà thờ con gà ở Đà Lạt nằm trên đường Trần Phú còn được gọi tên gọi khách là Nhà thờ Chánh Tòa. Nơi đây tập trung rất nhiều khách sạn nổi tiếng như Novotel, Sammy…

Nhà thờ Con gà là một trong những kiến trúc cổ xưa tiêu biểu còn xót lại từ thời Pháp thuộc. Đây là một trong những nhà thờ lớn nhất của Đà Lạt. Sở dĩ nhà thờ có tên gọi là con gà vì trên đỉnh tháp chuông có tượng một con gà lớn

Phần phía trên cao của nhà thờ được lắp 70 tấm kính màu mang đậm phong cách của kiến trúc Châu âu thời trung cổ. Cứ mỗi dịp giáng sinh nhà thờ con gà lại đón rất nhiều khách du lịch Đà Lạt tới dự lễ và tham quan.

Tại sao lại gọi là nhà thờ con gà

Đây là câu hỏi thú vị được rất nhiều người yêu thích lịch sử hỏi hướng dẫn viên của Hoa Dalat Travel khi đi tour đà lạt 1 ngày, câu trả lời đó chính là: Ở trên đỉnh của nhà thờ nơi đặt cây thánh giá có một con gà bằng kim loại hoàn toàn trống rỗng bên trong và được phủ một lớp một lớp hoá chất vô cùng đặc biệt có thể chịu được sự khắc nghiệt của thời gian. Vậy là bạn đã biết tại sao lại gọi là nhà thờ con gà rồi đó.

Hình ảnh nhà thờ con gà

Cửa sổ có vòm cung tròn, các đường nét mạnh mẽ, dứt khoát, tổ chức theo phân vị đứng, mái lợp ngói thạch bản, đặc biệt là tỷ lệ giữa các mảng khối rất hài hoà và chặt chẽ.

Các cột trong nội thất có hệ đầu cột, mô phỏng dạng cổ điển kết hợp với tự phát. Cả mặt bằng và mặt đứng đều được thiết kế đối xứng nghiêm ngặt theo lối cổ điển.

Các nhà thờ ở Đà Lạt

Ngoài nhà thờ con gà bạn cũng có thể tham quan các nhà thờ ở đà lạt khác như:

Nhà Thờ Domaine De Maria

Nhà Thờ Cam Ly

Nhà Thờ Tùng Lâm

Nhà Thờ Du Sinh

và rất nhiều nhà thờ đẹp khác chờ bạn tới khám phá

Video nhà thờ con Gà của Hoa Dalat Travel

Giờ lễ và địa chỉ Nhà Thờ Con Gà

Giờ lễ hàng ngày

Ngày thường : Sáng 5h15 , Chiều 17h15

Chủ nhật : 5h15, 7h, 8h30, 16h, 18h

Cha Phaolo Lê Đức Huân

15 Trần Phú Phường 3 thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng

Tháng cảnh đẹp nên đến Thác Datanla Đà Lạt

Điện thoại : 02633.821.421

Bản đồ nhà thờ con gà

Từ chợ đà lạt bạn đi tới vòng xoay đi tiếp qua cầu ông đạo đứng ở giữa cầu nhìn sang bên tay phải là đã nhìn thấy nhà thờ rồi, đi tiếp hết cầu sẽ tới đường Lê đại hành đi thẳng và lên dốc là tới.

Tour nhà thờ con gà Đà Lạt

Hoa Dalat Travel đang tổ chức chương trình tour 1 ngày ghép đoàn với 7 điểm tham quan nổi tiếng với giá chỉ 160.000đ/ khách gồm các điểm như:

Nhà Thờ Con Gà

Dinh Bảo Đại

Thiền Viện Trúc Lâm

Hồ Tuyền Lâm

Thác Datanla

Thiền Viện Vạn Hạnh

Showroom hoa khô

Đánh giá bài viết này

Bạn đang xem bài viết Tiến Sĩ Nhữ Đình Toản Và Họ Nhữ Với Quê Hương Hoạch Trạch Và Đường An (Phần 2) trên website Aimshcm.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!