Top 3 # Giải Hạn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Aimshcm.com

Chen Lấn Để Dâng Sao Giải Hạn: Có Giải Được Hạn?

Mấy ngày qua, tại TPHCM và Hà Nội, rất đông người dân chen chân đến các ngôi chùa để hành lễ dâng sao giải hạn đầu năm mới. Vấn đề này đã tạo nên những ý kiến trái chiều. Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói gì về cúng sao giải hạn và người cúng có giải được hạn không? Cúng sao giải hạn có từ bao giờ?

Cúng sao giải hạn đã thành một cái lệ tín ngưỡng phổ biến với nhiều người dân tại nhiều chùa trong Nam ngoài Bắc vào dịp đầu xuân.

Vào các ngày 8, 10 và 15 tháng giêng hàng năm, nhiều người dân tìm đến các ngôi chùa để làm lễ dâng sao giải hạn. Mặc dù việc cúng sao giải hạn không được thừa nhận trong giáo lý Phật giáo, đi ngược với giáo lý về luật nhân- quả, song nhiều người vẫn tin là cúng sao thì sẽ giải được hạn.

Chiều 14.2, trao đổi với PV Báo Lao Động, Hòa thượng (HT) Thích Huệ Thông – Phó Tổng thư ký (TTK) Hội đồng Trị sự (HĐTS) Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) cho biết, việc cúng sao giải hạn không phải là văn hóa của Phật giáo.

Theo HT Thích Huệ Thông, đây là một tín ngưỡng dân gian có từ trước thời điểm đạo Phật du nhập vào Việt Nam. Khi đó, con người cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên, những thiên tai và bệnh tràn ngập đến con người. Trong lúc tuyệt vọng thì nghĩ đến các vị thần, các sao hạn để cúng với hy vọng được giải hạn.

“Đạo Phật chủ trương con người là chủ nhân quyết định vận mệnh của chính mình. Không ai làm cho chúng ta thanh tịnh, không ai giải hạn được cho mình, mà chính mình ta là người giải thoát cho chúng ta. Vì vậy, việc đi cúng sao giải hạn không có nghĩa là ta sẽ được giải hạn” – HT Thông nói.

Cũng theo HT Thích Huệ Thông, vấn đề ảnh hưởng đến số phận con người là do chính người đó tạo nên. Ở đây có khía cạnh nhân – quả, chúng ta sống như thế nào thì có kết cục tương ứng.

“Việc cúng sao giải hạn là tín ngưỡng, để người dân tránh rơi vào mê tín dị đoan, nhà chùa nên hướng người dân cúng cầu an đầu năm cho đúng với văn hóa của Phật giáo là không đốt vàng mã, không mê tín. Việc cúng này chủ yếu đem lại niềm tin và sự an lạc cho người dân. Việc cúng cầu an chủ yếu là đem lại cho gia chủ một niềm tin, một sự an lạc trong năm, tránh mê tín dị đoan” – HT Thông nói.

Cúng sao nhưng không giải được hạn do mình gây ra

Sáng 14.2, chia sẻ với PV Báo Lao Động, HT Thích Minh Thiện – Trưởng Ban trị sự GHPGVN tỉnh Long An cho rằng, nhìn nhận việc dâng sao giải hạn thế nào cho đúng, không nên nghĩ rằng đi dâng cúng sao là có thể giải được hạn do mình gây ra.

“Mỗi chúng ta nên làm việc thiện, ứng xử tốt với những người xung quanh, sống có đạo đức, không làm việc ác thì đồng nghĩa với việc chính ta đã giải hạn cho ta. Ngược lại, một khi ta đã làm việc sai, việc ác thì việc cúng sao giải hạn cũng không giải được nghiệp do ta gây ra” – HT Minh Thiện nói.

Cũng theo HT Minh Thiện, Đức Phật dạy người đệ tử Phật không nhìn sao trên trời để suy lường vận mệnh nên hư.

“Thực ra, sự bình an hạnh phúc phải do chính người đó tạo dựng, trên tinh thần mỗi người hãy thực hiện nếp sống tốt trong suy nghĩ, hành động mà Đức Phật dạy là bỏ việc ác, làm việc lành” – HT Minh Thiện khẳng định.

Đồng quan điểm này, HT Thích Tấn Đạt – Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Hoằng pháp GHPGVN cho rằng phật tử và người dân nên hiểu về quan điểm của nhà phật để tránh sa đà vào mê tín dị đoan.

“Quan điểm nhà Phật là mọi việc do ta tự quyết, không một ai hay thế lực nào có thể cứu ta và giải thoát cho ta. Chỉ có chính ta không gieo nghiệp xấu, chỉ làm những việc tốt và đem lại lợi ích cho xã hội thì mới cho ta sự giải thoát mà không có mâm cúng sao nào có thể đem lại được” – HT Thích Tấn Đạt nói.

Huân Cao

Có Nên Cúng Sao Giải Hạn ?

Cúng sao, giải hạn là mê tín dị đoan

Trong những ngày đầu năm mới, có rất nhiều người tìm đến chùa hay các nhà tử vi, tướng số để xem năm nay mình bị “sao” nào “chiếu”. Dân gian lại có câu “Nam La Hầu, Nữ Kế Đô”, “Thái Bạch hết sạch cửa nhà”,… khiến cho người xem “sao” phải lo lắng, hoang mang khi trong năm đón nhận một vì “sao” không tốt.

vào tình trạng bi đát, “tiền mất tật mang”. Vì mang tâm trạng hoảng sợ nên nếp sinh hoạt và làm việc của những người này bị ảnh hưởng xấu, khi gặp điều không như ý càng làm cho lòng tin vào những lời “phán” của ông thầy bói trở nên mạnh mẽ. Do đó, chúng ta cần có nhận thức rõ ràng về hình thức ” Cúng Sao Giải Hạn ” trong những ngày đầu năm.

Cho nên phải thấy rằng, “sao” là một khối vật chất thì chúng ta không thể nào cầu xin được cái gì ở nó cả. Ví dụ một chất dầu đổ trên mặt nước sẽ nổi. Bây giờ chúng ta đến để cầu nguyện cho những mảng dầu ở trên mặt nước đó chìm xuống đáy có được hay không? Chắc chắn là không. Lại có một khối đá rơi xuống sông và chìm dưới đáy, chúng ta đến đó để cầu nguyện cho khối đá nổi lên thì có thể nổi được hay không? Cũng không thể nào nổi được. Bởi vì đá là những khối vật chất, mà vật chất thì vô tri vô giác, không cảm nhận được những gì mà chúng ta cầu nguyện, mong muốn. Chỉ có thần linh mới có thể cảm nhận hay nghe được, mà những ngôi sao đó lại không phải là thần linh. Trên thực tế, thần linh còn không thể ban phước hay giáng họa cho ai, huống chi những ngôi sao không phải là thần linh thì không thể nào tiếp nhận được lời cầu nguyện của mình, cũng như không thể ban phước hay giáng họa được.

Cách Cúng Sao Giải Hạn Tại Nhà

(NTD) – Ông bà ta xưa quan niệm rằng mỗi năm, mỗi người có một ngôi sao chiếu mệnh như: La Hầu, Thổ Tú, Thuỷ Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Thái Âm, Mộc Đức, Vân Hán, Kế Đô. Trong đó có sao vận tốt, lại có sao vận xấu. Nếu ai bị sao vận xấu chiếu mạng trong năm thì làm lễ dâng sao giải hạn.

Chuẩn bị lễ cúng sao giải hạn tại nhà

Nếu ai được sao tốt chiếu mạng thì làm lễ dâng sao nghinh đón. Lễ nghênh, tiễn nhương tinh (cúng sao) được tiến hành thường kỳ vào những ngày nhất định của các tháng trong năm.

Tuy vậy, dù sao nào chiếu mệnh thì vào tối ngày rằm tháng giêng (ở miền Nam nhiều chùa cúng sao vào tối mồng 8 tháng giêng), người ta thường sắm đủ phẩm vật, đủ số lượng các đèn, nến tuỳ theo mỗi sao cần nghinh tiễn đế làm lễ cúng sao tại nhà. Bài vị cúng mỗi sao được viết trên giấy, có màu tương ứng với ngũ hành của từng sao.

Bàn hương án cúng dâng sao thường đặt ở sân trước nhà hoặc trên sân thượng.

Văn khấn cúng dâng sao giải hạn (ngày Rằm tháng Giêng)

Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm……………..

Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

Ngụ tại:…………………………………..

Chúng con thành tâm có lời kính mời:

Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quân

Nam Tào Bắc Đẩu tinh quân

Thái Bạch, Thi Tuế tinh quân

Bắc cực Tử vi Đại Đức tinh quân

Văn Xương Văn Khúc tinh quân

Nhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấn

La Hầu, Kế Đô tinh quân

Giáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấu:

Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe.

Đèn trời sán lạn.

Chiếu thắp cõi trần.

Xin các tinh quân.

Lưu ân lưu phúc.

Lễ tuy mọn bạc.

Lòng thành có dư.

Mệnh vị an cư.

Thân cung khang thái.

Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Hiểu đúng về cúng sao giải hạn

Đại đức Thích Thanh Phương cho biết, cúng sao giải hạn không phải là một nghi thức Phật giáo mà nguyên thuỷ của nó từ Lão giáo ở Trung Hoa. Sao hạn được tính theo học thuyết ngũ hành xung khắc. Theo sự vận chuyển của ngũ hành, mỗi năm có một vì sao chiếu mạng hợp với tuổi của từng người. Còn hạn là ách nạn, là cách thức riêng ứng với sao chiếu mạng tốt hay xấu. Theo đó, có chín ngôi sao (có sách nói là bảy sao) phát sáng trên trời, đó là: Nhật Diệu, Nguyệt Diệu, Hỏa Diệu, Thủy Diệu, Mộc Diệu, Kim Diệu, Thổ Diệu, La Hầu và Kế Đô. Có sách thêm sao Thái Bạch nữa thành mười sao. Chín ngôi sao này còn gọi là Cửu Diệu, là các sao phối trí theo các phương, sắp xếp theo mười hai chi và ngũ hành. Hàng năm, mỗi tuổi chịu ảnh hưởng của một ngôi sao, gọi nôm na là sao “chiếu mạng”. Do đó, có năm gặp sao tốt, có năm gặp sao xấu. Sao La Hầu và Kế Đô là sao xấu, là loại ám hư tinh, vì hai sao này chẳng thấy được mặt trời. Tuy bắt nguồn từ Lão giáo ở Trung Hoa nhưng tập tục này lại ăn sâu vào quan niệm của người dân Việt, rồi dần dà theo thời gian trở thành một tập tục lâu đời của người Việt. Qua quá trình giao thoa văn hóa, không biết từ bao giờ, nó nghiễm nhiên trở thành tục lệ Phật giáo.

Theo quan điểm của Phật giáo, không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa, bởi vì tất cả đều do nhân quả của chính người ấy làm nên. Đức Phật dạy, không có quả nào từ trên trời rơi xuống, hoặc dưới đất hiện lên, mà đều do các hành động qua thân, khẩu và ý của con người tạo ra. Mọi sự thành công hay thất bại của mỗi người trong đời chẳng phải do ai ban phát cho, mà do những hành động hoặc lời nói đã tạo từ trước (nhân), cộng với các yếu tố trong hiện tại (duyên), khi nhân duyên đầy đủ thì lãnh thọ quả báo (quả).

Tuy nhiên, cúng sao giải hạn là một trong những hình thức phương tiện các chùa Phật giáo vận dụng để đưa chúng sinh đến gần với Phật pháp. Khi vận dụng nghi thức cúng sao giải hạn của Lão giáo, các thầy chủ lễ không sử dụng nghi thức Lão giáo mà thay vào đó là tụng kinh, sử dụng các nghi thức của Phật giáo, để cho những ai chưa phải Phật tử được nghe lời kinh mà thức tỉnh. Những ai đã là Phật tử rồi, có dịp ôn lại lời kinh để việc học Phật, tu Phật càng vững chãi hơn, tinh tấn hơn. Hơn nữa, qua việc cúng bái đó, Tăng Ni có cơ hội tiếp cận, gần gũi và giúp đỡ quần chúng; khuyên họ làm lành lánh dữ, đi chùa tụng kinh lạy Phật, bố thí cúng dường…

Nhưng một số nơi khi cử hành nghi thức cúng sao hạn nặng nề, phiền phức, mang vẻ âm u huyền bí, làm mất sự trong sáng của nền tín ngưỡng Phật giáo và bản chất của phong tục. Chính điều đó đã biến phong tục ngày càng mang màu sắc mê tín trầm trọng, kèm theo những đánh giá không tốt về Phật giáo.

Quỳnh Chi (Sưu tầm)

Tam Tai &Amp; Cúng Giải Hạn Tam Tai?

HỎI: Trong đạo Phật có quan niệm về Tam tai và cúng giải hạn Tam tai không? (PHÚ THÁI, phuthai0182@yahoo.com.vn)

ĐÁP: Bạn Phú Thái thân mến!

Tam tai cũng gọi Tam tai kiếp là một khái niệm quan trọng trong giáo lý đạo Phật. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang (q.5, tr.4165): Thế giới tuần hoàn theo 4 chu kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không. Trong đó, loài hữu tình xuất hiện trong một thời kỳ nhất định ở kiếp Trụ, đến thời kỳ cuối cùng của kiếp Hoại thì thế giới hoàn toàn bị phá hủy. Trong kiếp Trụ và kiếp Hoại lần lượt xảy ra 3 tai ách, gọi là Tam tai.

Theo luận Câu-xá (q.12): 1.Tiểu tam tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 10 tuổi, thì xảy ra các tai ách, gồm có 3 thứ: Đao binh tai (dùng các thứ vũ khí giết hại lẫn nhau), Tật dịch tai (các loại bệnh dịch hoành hành) và Cơ cẩn tai (nạn hạn hán mất mùa đói kém). 2.Đại tam tai: Kiếp Hoại được chia làm 20 thời kỳ, vào thời kiếp cuối cùng thì thế giới bắt đầu hoại diệt và sinh ra thiên tai, gồm Hỏa tai (lửa dữ thiêu hủy từ cõi Dục đến các cõi trời Sơ thiền), Thủy tai (nước cuốn trôi và dâng lên đến các cõi trời Nhị thiền) và Phong tai (gió thổi bay tất cả cho đến các cõi trời Tam thiền). Sự phát sinh Đại tam tai theo một trình tự nhất định. Tức đầu tiên là Hỏa tai hủy diệt thế giới 7 lần, sau đó đến Thủy tai hủy diệt 1 lần; cứ như thế lặp đi lặp lại 7 lần, cuối cùng thì Phong tai thổi bay tất cả, thế giới không còn gì nữa.

Theo sách Pháp uyển châu lâm (q.1): 1.Tiểu tam tai: Cơ cẩn tai: Con người thọ 84.000 tuổi, cứ 100 năm giảm đi 1 tuổi, cho đến khi giảm xuống còn 30 tuổi thì hạn hán xảy ra, trời không mưa, cây cỏ không mọc, người trong thế gian chết vì đói kém. Tật dịch tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 20 tuổi thì các bệnh dịch xảy ra, người trong thế gian mắc bệnh mà chết. Đao binh tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi thì xảy ra chiến tranh, mọi người dùng dao gậy đánh chém, tàn sát lẫn nhau, người trong thế gian chết vì chiến tranh. 2.Đại tam tai: Hỏa tai: Cõi Dục và các tầng trời Sơ thiền đều bị cháy tiêu, không sót vật gì. Thủy tai: Từ cõi Dục đến các tầng trời Nhị thiền đều bị nước tràn ngập, tất cả đều hoại diệt. Phong tai: Từ cõi Dục cho đến các tầng trời Tam thiền thảy đều bị thổi bay, hết sạch không sót vật gì.

Trong dân gian cũng có khái niệm Tam tai được tiếp biến từ Tiểu tam tai của đạo Phật nhưng diễn dịch liên hệ theo tuổi tác thành hạn tam tai như: Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp tam tai tại các năm Dần, Mão, Thìn. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp tam tai tại các năm Thân, Dậu, Tuất. Tuổi Hợi, Mão, Mùi gặp tam tai tại các năm Tỵ, Ngọ, Mùi. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu gặp tam tai tại các năm Hợi, Tý, Sửu. Dân gian tin rằng, đến năm hạn tam tai sẽ gặp nhiều trở ngại, một số việc xấu thường xảy ra như: Tâm tính nóng nảy bất thường, có tang trong thân tộc, dễ bị tai nạn xe cộ, bị thương tích, bị dính đến pháp luật, thất thoát tiền bạc, mang tiếng thị phi v.v… Muốn vượt thoát các hạn này phải nhờ thầy (bà) cầu cúng gọi là cúng giải hạn Tam tai. Kỳ thực, cuộc sống con người do nghiệp thiện (ác) của họ chi phối, cầu cúng thần linh không thể can thiệp vào quá trình này. Người đạo Phật có chánh kiến không tin và không thực hành theo việc cúng giải hạn Tam tai của dân gian.

Như vậy, đạo Phật và dân gian đều có khái niệm Tam tai nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Tam tai trong đạo Phật là tuệ giác của Đức Phật thấy rõ sự vận hành của vũ trụ, nhân sinh theo quy luật Thành, Trụ, Hoại, Không. Không ai có thể thoát được Tam tai trừ khi chứng và trú từ cõi Tứ thiền trở lên hay siêu xuất khỏi tam giới.