Top 10 # Gio Tot De Cung Ong Tao Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Aimshcm.com

Chọn Ngày Tốt 2013, Chọn Giờ Tốt 2013 Những Lưu Ý , Gio Tot 2013

1/ Chọn ngày tốt 2013 , những ngày tốt nhất năm 2013 Quý Tỵ.

Dùng cho khai trương, động thổ, sửa chữa xây cất nhà cửa, nhập trạch (vào nhà mới), tân gia, cưới hỏi, an trang, ký kết hợp đồng, khởi sự, giao dịch, đi – về…những công việc quan trọng.

Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau:

Lưu ý: Các ngày có đánh dấu (**) là ngày Hoàng Đạo

Tháng giêng: ngày 01, 02, 04**, 15, 16**, 17, 25**, 28**, 29, kỵ giờ Dần

Tháng hai: ngày 08, 19**, 20, kỵ giờ Tỵ.

Tháng ba: ngày 01, 29**, 30**, kỵ giờ Thân.

Tháng tư: ngày 06, 09, 19**, 26, 29**, kỵ giờ Thìn.

Tháng năm: ngày 01, 02**, 17, 25, 26**, 29**…kỵ giờ Dậu.

Tháng sáu: ngày 10** …kỵ giờ Mão.

Tháng bảy: ngày 01**, 06**, 15**, 25**, 28…kỵ giờ Dần.

Tháng tám: ngày 11, 20, 25, 26…kỵ giờ Tỵ.

Tháng chín: ngày 02, 04**, 08**, 16, 17**, 19, 20**, 26**…kỵ giờ Thân.

Tháng mười: ngày 04, 10**, 15**, 16, 28…kỵ giờ Thìn.

Tháng Một (11): ngày 06**, 09, 15…kỵ giờ Dậu.

Tháng Chạp (12): ngày 04,11, 12, 15**, 16**, 28**, 29…kỵ giờ Mão

2/ Chọn giờ tốt trong năm Quý Tỵ 2013, chọn giờ tốt 2013 ( sau khi đã tham khảo mục 1)

( quý vị lưu ý là không phải mọi thứ đều phải chọn giờ tốt, nhiều khi giờ xấu lại hay trong một số ứng dụng, ví dụ phá nhà, hạ huyệt…..)

1.Ngày Giáp Tý xuất hành, đến nhà nào cũng có tiền và có cơm rượu ăn, hành sự rất may mắn.Nhưng vào giờ Thân Dậu thì phải chú ý, nếu không thì không vui vẻ.

2.Ngày Ất Sửu là ngày Triệu Tướng công đọc tế Phong điểu (một dạng chiêm thuật thời cổ đại), vào giờ Dần Mão đến phương Bắc hành sự thì tương đối cát lợi.Giờ Ngọ, Mùi thì không cát lợi.

3.Ngày Bính Dần là ngày Sở Bá Vương đại bại.Ra ngoài hành sự có tranh chấp cãi vã, trước tiên sẽ gặp nguy hiểm, sau đó thì chuyển nguy an.Vào giờ Thìn Tỵ ra ngoài hành sự thì tương đối yên ổn.

4.Ngày Đinh Mão là ngày thuộc về Táo thần, giờ Ngọ xuất hành có tài lộc, Giờ Dần mão ra ngoài thì khó có được tài lộc.

5.Ngày Mậu Thìn, tướng quân bước ra ngoài gặp hồ ly, điều này dự báo làm việc có đầu mà không có cuối, khi vừa bắt đầu thì tốt, về sau thì không tốt.Giờ Tý Sửu xuất hành thì sẽ gặp thuận lợi.

6.Ngày Kỷ Tỵ là ngày Phàn Xá xuất ngoại chinh phạt đắc thắng trở về kiến Thiên tử, ngày này xuất hành cát lợi.Giờ Ngọ, Mùi thì phải chú ý.

7.Ngày Canh Ngọ là ngày Hán Vương đăng cơ, xuất hành sẽ có tiền của, có niềm chúng tôi nhiên, giờ Thìn Tỵ xuất hành thì không thể có hai thứ đó.

8.Ngày Tân Mùi là ngày Nghiêu Thuấn tế trời, xuất hành cát lợi.Giờ Dần Mão thì không cát lợi.

9.Ngày Nhâm Thân là ngày Thập ác đại bại không ra ngoài tác oai tác quái, ngày này ra ngoài bình an thuận lợi.Giờ Tý Sửu ra ngoài thì không thuận lợi.

10.Ngày Quý Dậu là ngày thần Ngũ thông bái trời, ra ngoài hành sự có rượu thịt dùng.Giờ Thân Dậu ra ngoài thì không được như vậy.

11.Ngày Giáp Tuất là ngày hòa thượng Tế Công thăng thiên, giờ Dần Mão đến phương hướng Đông Nam hành sự sẽ tương đối thuận lợi.Giờ Ngọ Mùi thì không thuận lợi.

12.Ngày Ất Hợi là ngày Nhị Lang thần chinh chiến, giờ Dần Mão xuất hành thì cát lợi.Giờ Ngọ Mùi xuất hành thì không được như vậy.

13.Ngày Bính Tý là ngày Văn Vương lên điện, giờ Dần Mão xuất hành thì cát lợi.Giờ Ngọ Mùi xuất hành thì không cát lợi.

14.Ngày Đinh Sửu là ngày Lý Đầu Đà tham đàn, không nên ra ngoài hành sự, nếu phải ra ngoài hành sự thì có thể tranh chấp cãi vã.Giờ Dần Mão ra ngoài hành sự thì tương đối bình an.

15.Ngày Mậu Dần là ngày Tống Vương được cứu giúp, giờ Ngọ ra ngoài hành sự có tiền của lại có niềm vui.Giờ Tý Sửu ra ngoài hành sự thì không có cả hai.

16.Ngày Kỷ Mão là ngành Dương Lục Sử đại chiến với quân xâm lược ở bên ngoài, giờ Tý Sửu hành sự tương đối cát lợi.Giờ Thân Dậu hành sự không cát lợi.

17.Ngày Canh Thìn là ngày Bá Vương lên trời chịu khổ, tìm người làm việc, mưu sự không cát lợi.Giờ Ngọ Mùi hành sự thì tương đối cát lợi.

18.Ngày Tân Tỵ là ngày thần Ngũ Thông diễn pháp, giờ Mão ra ngoài có thể gặp quý nhân.Giờ Thìn Tỵ ra ngoài không thuận lợi.

19.Ngày Nhâm Ngọ là ngày Triệu Lục Hòa từ chức quan Thái úy, giờ Tỵ ra ngoài hành sự cát lợi.Giờ Dần Mão ra ngoài không thuận lợi.

20.Ngày Quý Mùi là ngày Hàn Tín đại chiến, giờ Tỵ Ngọ hành sự cát lợi.Giờ Tý Sửu ra ngoài không thuận lợi.

21.Ngày Giáp Thân là ngày Văn Vương chịu tội thay người khác, ra ngoài hành sự sẽ gây kiện tụng.Giờ Thân Dậu thì tương đối bình an.

22.Ngày Ất Dậu là ngày ác ma, ra ngoài hành sự có tranh chấp cãi vã.Giờ Ngọc Mùi ra ngoài hành sự thì tương đối bình an.

23.Ngày Bính Tuất là ngày Khương Thái Công gặp Văn Vương, giờ Dần Mão hành sự có lộc có ăn.Nhưng giờ Thìn Tỵ ra ngoài hành sự thì không có lộc.

24.Ngày Đinh Hợi là ngày Hán Vương nhận ơn cứu mạng, giờ Tý Sửu hành sự đều cát lợi.Giờ Dần Mão hành sự không thuận lợi.

25.Ngày Mậu Tý là ngày lý Quảng khuyên giải Hán Vương, ngày này hành sự trước không thuận lợi sau thì thuận lợi.Giờ Tý Sửu hành sự tương đối thuận lợi.

26.Ngày Kỷ Sửu là ngày Trương Thiên Sư giáng xuống làm yêu quái, ra ngoài hành sự có việc nguy hiểm.Giờ Thân Dậu ra ngoài hành sự thì bình an.

29.Ngày Nhâm Thìn là ngày Hạc thần không ăn cơm phá phách, ra ngoài hành sự không cát lợi.Giờ Dần Mão ra ngoài hành sự tương đối thuận lợi.

30.Ngày Quý Tỵ không nên ra ngoài hành sự, giờ Thìn ra ngoài thì tốt.Giờ Tý Sửu ra ngoài bình an.

31.Ngày Giáp Ngọ là Dương Lục Sử thắng trận về triều báo công, giờ Tý Sửu hành sự sẽ tương đối cát lợi.Giờ Thân Dậu hành sự sẽ không thuận lợi.

32.Ngày Ất Mùi là ngày Dương Lệnh Công được phong tước, ra ngoài hành sự vào giờ Dần Mão thì tương đối cát lợi.Giờ Ngọ Mùi hành sự không thuận lợi.

33.Ngày Bính Thân là ngày quỷ vô thường, ra ngoài hành sự không thuận lợi, làm việc gì cũng không cát lợi.Giờ Thìn Tỵ ra ngoài hành sự tương đối thuận lợi.

34.Ngày Đinh Dậu là ngày Dương Lục Sử bị xử chém, ra ngoài hành sự có tai họa.Giờ Tý Sửu ra ngoài hành sự tương đố bình an.

35.Ngày Mậu Tuất là ngày Hồ Diên tán đánh lui quân địch, giờ Thìn ra ngoài hành sự có thể được tiền của, giờ Dần Mão ra ngoài hành sự không có hiến thân.

36.Ngày Kỷ Hợi là ngày Hán Vương xuất hành không trở về, ra ngoài hành sự sẽ gặp kiện tụng có nguy hiểm.Giờ Thân Dậu ra ngoài hành sự sẽ bình an.

37.Ngày Canh Tý là ngày Dương Lệnh Công thu phục sứ thần sáu nước.Giờ Dần Mão ra ngoài hành sự có thể được tiền.

38.Ngày Tân Sửu là ngày nàng Mạnh Khương tìm thầy chồng nhưng không trở về, ra ngoài hành sự có nguy hiểm, giờ Thìn Tỵ thì không có nguy hiểm.

39.Ngày Nhâm Dần là ngày Triệu Tướng quân được miễn tội, không thích hợp ra ngoài hành sự, nếu hành sự thì không cát lợi.Giờ Dần Mão xuất hành thì bình an.

40.Ngày Quý Mão là ngày Thái Thượng Lão Quân lên xe đi dạo, giờ Ngọ Mùi ra ngoài hành sự có thể được tiền của.Giờ Tý Sửu ra ngoài hành sự không thể được tiền của.

41.Ngày Giáp Thìn làm việc gì cũng đều cát lợi.Giờ Thân Dậu ra ngoài hành sự thì không được thuận lợi.

42.Ngày Ất Tỵ là ngày Thập ác đại bại, không nên ra ngoài hành sự.Giờ Ngọ Mùi có thể ra ngoài hành sự.

43.Ngày Bính Ngọ là ngày không thích hợp ra ngoài hành sự, có nguy hiểm.Giờ Thìn Tỵ ra ngoài thì không nguy hiểm.

44.Ngày Đinh Mùi là ngày Đường Tam Tạng đi lấy kinh, giờ Ngọ Mùi hành sự đại cát đại lợi.Giờ Dần Mão ra ngoài hành sự không cát lợi.

45.Ngày Mậu Thân là ngày Khổng Tử giáo huấn Nhan Hồi, ra ngoài hành sự vào giờ Dần Thìn là cát lợi nhất.Giờ Tý Sửu hành sự thì không cát lợi.

46.Ngày Kỷ Dậu là ngày Hạng Vương bại trận, không thích hợp ra ngoài hành sự.Giờ Thân Dậu thì có thể ra ngoài hành sự.

52.Ngày Ất Mão là ngày chồng của nàng Mạnh Khương là Phạm Hỷ Lương bị ép chết dưới chân Trường Thành, làm việc gì cũng không cát lợi.Giờ Ngọ Mùi hành sự cát lợi.

53.Ngày Bình Thìn là ngày Sở Bá Vương trở về nơi đóng quân, ra ngoài hành sự vào giờ Ngọ Mùi thì tương đối cát lợi.Giờ Thìn Tỵ thì không cát lợi.

54.Ngày Đinh Tỵ là ngày Triệu Lương Văn Đế du xuân, ra ngoài hành sự vào giờ Tý Ngọ thì tương đối cát lợi.Giờ Dần Mão không cát lợi.

55.Ngày Mậu Ngọ là Cửu lương trực nhật, ra ngoài hành sự không cát lợi.

56.Ngày Kỷ Mùi là ngày Diên Tương Công phản công Bá Vương, giờ Thân Dậu hành sự có thể được tiền của, đại cát đại lợi.Giờ Tuất Hợi hành sự không thể được tiền của.

57.Ngày Canh Thân là ngày Đường Minh Hoàng vân du cung trăng.Giờ Thìn Tỵ ra ngoài hành sự có thể được tiền của.Giờ Ngọ Mùi ra ngoài hành sự không thể được tiền của.

58.Ngày Tân Dậu là ngày Dương Văn Quảng được xá miễn, giờ Dần Mão ra ngoài hành sự tương đối cát lợi.Giờ Thìn Tỵ ra ngoài hành sự không thuận lợi.

59.Ngày Nhâm Tuất là ngày Xã Công kết thân, ra ngoài hành sự vô cùng cát lợi.Giờ Dần Mão ra ngoài hành sự không thuận lợi.

60.Ngày Quý Hợi, không thích hợp ra ngoài hành sự, nếu ra ngoài hành sự thì sẽ có tai họa sát nhân.Giờ Tý Sửu ra ngoài thì tương đối bình an.

Nguồn TTNC Lý Học Đông Phương / ST

Nhà Thờ Domaine De Maria

Một địa điểm du lịch đà lạt giá rẻ tham quan hoàn toàn miễn phí nhà thờ Domaine De Maria thu hút rất đông du khách gần xa tới tham quan trong bài viết này Hoa Dalat Travel sẽ giới thiệu để bạn biết về nhà thờ tuyệt đẹp này nhá

GIỚI THIỆU NHÀ THỜ DOMAINE DE MARIA ĐÀ LẠT

Nhà thờ hiện nay nằm trên đường Ngô Quyền, cách trung tâm thành phố ngàn hoa Đà Lạt khoảng 1km về phía Tây Nam và nằm đối diện bệnh viện tỉnh Lâm Đồng, nhà thờ còn có tên gọi khác là Lãnh Địa Đức Bà được xây dựng từ năm 1940 đến năm 1944 do phu nhân toàn quyền xứ Đông Dương khi ấy là Jean Decoux đứng ra quyên góp của giáo dân khắp nơi.

Nhà thờ Domaine de Marie cũng còn có tên gọi khác là Nhà thờ Mai Anh (vì nằm trên ngọn đồi có nhiều hoa anh đào – đồi Mai Anh) là một cụm công trình kiến trúc bao gồm nhà nguyện và hai dãy nhà của tu viện nữ tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn (Filles de la charité de saint Vincent de Paule) – một tu hội nữ tu lâu đời có mặt tại Việt Nam từ năm 1928.

THAM QUAN LÃNH ĐỊA ĐỨC BÀ ĐÀ LẠT

Nét đặc sắc vô cùng đặc biệt của nhà thờ Domaine de Marie là không có tháp chuông, và hệ thống chiếu sáng của nhà thờ được làm bằng những khung kính màu.

Ngoài ra du khách còn có thể nhìn thấy một pho tượng Đức Mẹ ban ơn cao 3m, nặng 1 tấn đứng trên quả địa cầu, được khắc hoạ theo hình người phụ nữ Việt Nam, do kiến trúc sư người Pháp Jonchere thiết kế.

Vào khuôn viên nhà thờ Domaine De Maria bạn có thể thấy rất nhiều loại hoa đà lạt, đặc biệt là hoa Hải Tiên. Phía sau nhà thờ này là một quần thể kiến trúc được thiết kế theo kiểu mới, càng làm tăng thêm vẽ uy nghi và trang nghiêm cho nhà thờ.

Vì chỉ dùng duy nhất một màu vôi hồng đậm để quét tường, nên dưới ánh nắng nhà thờ domain như sáng rực lộng lẫy hẳn lên.

Nhà thờ Domaine De Maria có tên tiếng anh là Dedomaine de marie church

Nhà thờ Domain de Marie là nơi sinh sống và làm việc của các Nữ Tu Bác Ái, họ đan áo len lạnh, bán cho du khách vào tham quan nơi đây.

Hình ảnh nhà thờ Domain De Maria

Giờ lễ nhà thờ Domaine Đà Lạt

ngày thường 17h15 chủ nhật 6h00

Số 1 Ngô Quyền Phường 5 Thành Phố Đà Lạt

Đường đi đến nhà thờ Domaine De Maria

Từ chợ Đà Lạt bạn có thể đi theo bản đồ đà lạt sau để đi đến nhà nhờ Domaine nhanh nhất

Khi tới tham quan nhà thờ bạn cần lưu ý như sau:

Không nô đùa chạy nhảy gây ồn ào làm ảnh hưởng tới những khách tham quan khác cũng

Không xả rác bừa bãi

Cách Tự Tẩy Nốt Ruồi Tại Nhà Bằng Mật Ong

Cách tự tẩy nốt ruồi bằng mật ong

Cách tự tẩy nốt ruồi bằng mật ong nguyên chất

Mật ong nguyên chất chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng không chỉ giúp làm mềm da, nuôi dưỡng da khỏe mạnh tươi tắn mà còn hỗ trợ làm mờ các nốt rồi tối màu. Theo đó, bạn nên dùng tăm bông thấm vào mật ong rồi quét lên vùng da chứa nốt ruồi giữ khoảng 15 – 20 phút để các dưỡng chất có thể thẩm thấu sâu trong da. Sau đó rửa lại với nước, thực hiện hàng ngày sau khoảng 1 – 2 tuần chân nốt ruồi sẽ mờ dần và biến mất.

Cách tự tẩy nốt ruồi bằng mật ong + hạt lanh

Hạt lanh, dầu thầu dầu đều là những nguyên liệu chứa thành phần có khả năng làm mờ nốt ruồi, khi kết hợp với mật ong sẽ cho hiệu quả tẩy nốt ruồi tăng lên gấp nhiều lần. Để loại bỏ nốt ruồi bạn lấy mật ong trộn với hạt lanh hoặc dầu thầu dầu thành một dưỡng chất. Sau đó, bạn hỗn hợp này lên vùng da chứa nốt ruồi giữ khoảng 15 – 20 phút rồi rửa lại với nước ấm. Với công thức này bạn nên thực hiện 2 – 3 lần/ tuần để có được hiệu quả tốt nhất.

Có thể nói tẩy nốt ruồi bằng mật ong là phương pháp an toàn, tiết kiệm dễ thực hiện tại nhà. Tuy nhiên theo các chuyên gia, những cách làm này chỉ phù hợp với những nốt ruồi mới mọc và giúp làm mờ chúng. Với những nốt ruồi đen lâu năm có kích thước lớn nếu thực hiện các phương pháp trên gần như không cho kết quả khả quan. Chính vì vậy, để loại bỏ nốt ruồi nhanh chóng, ngàng càng có nhiều người tìm đến phương pháp công nghệ cao, điển hình là công nghệ Laser CO2.

Tẩy nốt ruồi bằng công nghệ Laser C02 là phương pháp được nhiều người yêu thích và lựa chọn bởi thời gian thực hiện nhanh chóng, nốt ruồi được loại bỏ sạch chân nhờ chiếu trực tiếp ánh sáng laser vào vùng da chứa nốt ruồi. Đảm bảo nốt ruồi được loại bỏ sạch sẽ, đồng thời tái tạo vùng da giúp da sáng đều màu tự nhiên, đặc biệt không đau, không để lại sẹo, không xâm lấn hay làm ảnh hưởng đến các vùng da lân cận.

Tại hệ thống thẩm mỹ Thu Cúc, tẩy nốt ruồi là dịch vụ được thực hiện theo quy trình bài bản, an toàn không gây kích ứng da. Chắc chắn với 24 năm kinh nghiệm trong phẫu thuật làm đẹp thẩm mỹ, chắc chắn bạn sẽ ấn tượng và hài lòng khi thực hiện các dịch vụ tại Thu Cúc. Nếu còn bất cứ thắc mắc nào khác bạn có thể liên hệ tới tổng đài 1900 1920 để được nghe tư vấn miễn phí từ phía chuyên gia.

Tiếng Việt Từ Thời Lm De Rhodes

2/4/2018 1:34:47 PM

葡漢辭典

Bồ Hán Từ Điển

Bản năm 1632 có 70 chữ. Tuy không thấy LM de Rhodes đề cập trực tiếp đến nội dung KLC trong các tác phẩm của ông, nhưng VBL/PGTN lại ghi tất cả các từ liên hệ đến KLC như cha/chưng/danh/chúng tôi/kẻ/tai/dữ … nhất là các đoạn quan trọng:

dùng thay vì tên trong KLC vì nét nghĩa rộng hàm ý tiếng tăm, cách sống/đạo đức … Chữ danh 名 có các cách đọc (thanh mẫu minh 明 vận mẫu thanh/khai 清開 bình thanh 平聲, khai khẩu tam đẳng 開口三等) theo phiên thiết: 武幷切 vũ tịnh thiết (TVGT, ĐV, QV), 彌成切 di thành thiết (NT, TTTH), 眉兵切,音詺 mi binh thiết, âm danh (CV, TVi) TVi ghi âm minh 音明, 彌幷切 di tịnh thiết (TV, LT), 彌正切 di chánh thiết (TV, LT)TNAV ghi cùng vận bộ 庚青 canh thanh (dương bình), 眉平切, 音明 mi bình thiết, âm minh (CTT) …v.v… Giọng BK bây giờ là míng so với giọng Quảng Đông ming4 meng4 meng2 và các giọng Mân Nam 客家话: [沙头角腔] miang2 [海陆丰腔] miang2 [梅县腔] miang2 [东莞腔] miang2 [客英字典] miang2 [台湾四县腔] miang2 [客语拼音字汇] miang2 [陆丰腔] miang3 [宝安腔] miang2, giọng Mân Nam/Đài Loan beng5, tiếng Nhật mei myou và tiếng Hàn myeng. Dạng *minh của danh còn vết tích trong cách đọc mính 茗 (trà hái muộn) và là cây dành dành (loài trà) hay minh 銘 (ghi nhớ). Cách đọc *tân/tấn của chữ danh còn có thể là *tiên, đây cũng chính là một cách kí âm bằng chữ Nôm của tên: dùng chữ tiên 先 hay tiên hợp với danh 𠸜 cho rõ nghĩa hơn, tiếng Việt không thấy dùng dạng *tến. Hỗ trợ cho tương quan danh-tân/tấn-*tiên-tên là liên hệ giữa âm tiễn 箭 (đọc là 作殿切/TVi tác điện thiết, một biến âm của điện là là đền) – tiếng Việt còn duy trì dạng xuất hiện bốn lần trong KLC 1632: VBL giải thích là một phụ từ làm cho câu thêm đầy đủ (particula expletiva/L), cũng như giải thích của LM Béhaine/Taberd (particula auxiliaris/L ~ phụ từ). Chưng có một dạng chữ Nôm là trưng 徵 hay 烝 蒸 (một trong nhiều nét nghĩa của chưng là cất, hấp/chưng):”Bằng tôi nào thửa ích chưng dân” Nguyễn Trãi, Ức Trai Thi Tập 15b, “Tôi bỗng một mình lạc đến chưng đây” Thiên Nam Ngữ Lục 63b … Kí ức tập thể của dân gian qua câu ca dao sau đây cho thấy chưng đã từng được dùng thường:Danh

CV ghi cùng vần/bình thanh 明 朙 眀 盟 鳴 䳟 名 洺 銘 冥 暝 瞑 覭 螟 蓂 溟 鄍 CV ghi cùng vần/khứ thanh 命 鳴 詺 名 暝 冥 瞑 䒌 tên. Cả hai dạng danh và tên đều hiện diện vào thời VBL: ‘ tên xấu’ và ‘ xấu danh ~ xấu tiếng’ (VBL trang 158, 730): “Vấn danh là tiệc hỏi tên” Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, 44a, “Đặt tên mới gọi ả Điêu Thuyền”Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập 18a.

彌延切,音綿 di diên thiết, âm miên (TVi, KH) TVi ghi âm miên 音眠, 莫陽切 mạc dương thiết (TVi) 音厖 âm mang – CTT ghi âm mãng 音莽, 眉病切 mi bịnh/bệnh thiết (TVi), 忙經切 mang kinh thiết (LT), 必仞切,音儐 tất nhận thiết, âm tân/tấn (TVi, KH) – CTT chỉ ghi cách đọc khác là 音儐 âm tấn/tân

Một từ khác đáng chú ý là Một điểm nên nhắc ở đây là vào thời VBL/PGTN và TCTGKM chưa thấy dùng tên Kinh Lạy Cha, nhưng có những cách gọi khác nhưa. của bản chữ Hán năm 1713 bên dưới (hình chụp).b. Bạn thấy tôi khó chưng nay chẳng chào

Kinh ĐCGS (est Orationis Dominica/L – PGTN trang 133):”Vì vậy thì nên trao kinh ĐCGS và kinh đức Chúa Bà Maria, cùng kinh mười hai đầy tớ cả, cho học thuộc lòng” PGTN trang 133 Kinh Chúa (per Orationem Dominicam/L – PGTN trang 306):”mà quỳ gối nguyện một kinh Chúa. Lại nguyện một kinh Ave, xin cùng rất thánh đồng thân Maria” PGTN trang 306. Xem cách dùng Chúa/Chủ Kinh quốc (cuốc/VBL) nghĩa là nước (quốc gia) trong cách dùng “Quốc cha trị đến”: cả hai chữ nước và quốc HV 國 đều hiện diện vào thời VBL, nhưng nước dùng nhiều hơn như nước Ngô (PGTN trang 12, 111), nước Đại Minh (PGTN trang 104, 112,126), nước Judaea (PGTN trang 164, 144, 125, 173 …), nước Israel (PGTN trang 271). Một số từ HV có thể được dùng khá tự do như quốc, tiểu, trở, thậm, vô, cùng … “giảng tin lành sự quốc trên trời” PGTN trang 182, “quốc trên trời đã đến gần” PGTN trang 177, “mà chẳng có khi nào làm việc tiểu gì lành” PGTN trang 254, “Thiên Trúc quốc” PGTN trang 105, 108, 109, 110 … Nước India (PGTN trang 105, tức là nước Thiên Trúc 天竺, Ấn Độ – NCT), LM de Rhodes và cộng sự viên có khuynh hướng giữ nguyên dạng tiếng gốc thay vì kí âm gần đúng bằng tiếng Việt (chữ quốc ngữ): LM Maiorica thì dùng nhiều tiếng Việt kí âm hơn. Lại có lúc dùng nước và quốc trong cùng một đoạn văn như “nước Thiên Trúc” PGTN trang 110, so với các bản Nôm của Maiorica “phần ở miệng kẻ còn ở nước Thiên Trúc” CTTr trang 109, 112, 114 … “Quốc (Cuốc) cha trị đến ” TCTGKM trang 98, 99 – có khi hai cách dùng quốc và nước đều hiện diện trong cùng một đoạn văn (trang 99). Từ thời vua Trần Nhân Tông (1208-1358), quốc 國 (quốc gia) đã hiện diện so với nước 渃 (chất lỏng):” Chơi nước biếc, ẩn non xanh … Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãn cong quê Hà hữu. Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân La[9]” Cư Trần Lạc Đạo hội thứ nhất và thứ năm. Quân quốc (exercitus/L) là quân lính/quân đội của nước, thường gặp trong các văn bản chữ Nôm/Quốc Ngữ thời LM de Rhodes: “có đại thần cả và nước và quân quốc đều cùng thiên hạ đi cùng” PGTN trang 21, “liền sai những quân quốc giết các trẻ” CTTr trang 149, “vua và quân quốc nước I Chi Tô” KNLMPS trang 15. Lại có lúc dùng làm ẩn dụ:”làm dấu Câu-Rút trên mình cho thiên hạ được biết ta là quân quốc về vua cả trên hết các vua” TCTGKM trang 23. Quân quốc là cách dùng Việt hóa của quốc quân HV 國軍, một cụm từ đã có từ đời Đường và trước đó, như trong Bắc Sử (soạn năm 659) quyển thập cửu, Ngụy hiến văn lục vương truyện, Bành Thành vương hiệp truyện:”tích văn quốc quân hoạch thắng, mỗi phùng vân vũ, kim phá tân dã, Na

c. Kinh Tại Thiên dùng 7 lần trong TCTGKM:”Khi ấy dạy tôi Kinh Tại Thiên, A-Ve cùng Kinh Tin Đức Yếu Đoan” trang 18.

2.2 KLC từ cuốn “Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông”/TCTGKM

LM Maiorica dành một số trang để giải thích căn kẽ từng câu và chữ quan trọng trong KLC: từ trang 96 đến trang 107 trong TCTGKM. Từ các phần này, KLC thời LM Maiorica có thể được phục hồi như sau (dịch từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ hiện đại/NCT). Các chữ in đậm là trích từ TCTGKM, các chữ khác là thêm vào cho rõ nghĩa dựa vào bản 1632 (NCT).A-men.có thể do ảnh hưởng tài liệu của các giáo sĩ dòng Tên tiên phong như LM Matteo Ricci (1552-1610) chẳng hạn. KLC được LM Ricci dịch ra như sau (

Thành ra, khi đọc kinh này, ta thường nhớ mấy chữ đầu tại thiên ~ ở trên trời) và kết quả là gọi tên kinh này là Kinh Tại Thiên (nghĩa đen là kinh ở trên trời). Hai câu trên của KLC theo tiếng Trung (Hoa) thời này là

我們的天父 Ngã môn đích thiên phụ願祢的名受顯揚 Nguyện nể đích danh thụ hiển dương…

2.3 KLC vào khoảng 1700-1750 (có tất cả 79 chữ)

Chúng tôi lậy thiên địa chân chúa ở trên blời là cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện danh [cha] cả sáng. Cuốc cha trị đến. Vâng ý Cha [làm] dưới đất bằng trên blời vậy. Chúng tôi xin cha rày [cho] chúng tôi hằng ngày dùng đủ. Mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi cũ tha kẻ có nợ chúng tôi vậy. Xin chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ. Bèn chữa chúng tôi chưng sự dữ. Cha chúng tôi ở trên trời, chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng. Quốc cha trị đến, ý Cha vâng dưới đất bằng chưng trời vậy. Chúng tôi trông Cha rày cho hàng ngày dùng đủ, mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi cùng tha nợ (kẻ có nợ chúng tôi vậy). Lại chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ, bèn chữa chưng sự dữ.

Trong văn bản Nôm, LM Maiorica thường viết là Kinh Tại Thiên 經在天, Tại thiên ngã đẳng phụ giả我等願爾名見聖 Ngã đẳng nguyện nhĩ danh kiến thánh…

tBản KLC bằng chữ Hán (1713) trích từ cuốn “The Lord’s Prayer in above 100 Languages, Versions and Characters” của Dan Brown. Để ý cách dùng “Chúa Kinh” (主經 ~ Kinh Chúa/Chủ như trong PGTN) và các chữ 在天我等父者 tại thiên ngã đẳng phụ giả (chép lại rất đơn giản/thiếu nét) …v.v… vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, NCT chép lại theo nguyên bản chữ La Tinh – Nôm – quốc ngữ (xuất hiện 2 lần trong Sách Các Phép – LM Halario de Jesu). Trong bản văn dưới, dấu hiệu ($) sau chữ có tất cả khỏi nghĩa là có lúc không ghi chữ 79 chữ.Cha chúng tôi là kẻ ở trên trời (mlời) xin cho tên (tin) người nên thánh nước người cai trị đến (ðến) vưng ý (êý) ở dưới đất bằng trên trời (mlời) vậy hãy ban cho chúng tôi hôm nay của ăn chúng tôi quen dùng mọi ngày cùng (cũ) tha cho chúng tôi những nợ (nhớ/nữa/nứa) chúng tôi bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ (nữa) chúng tôi vậy xin (cũ) chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ (deồ) bèn chữa chúng tôi khỏi ($) sự dữ. khỏi này (Sách Các Phép – trang 58),

Hình bên dưới là kinh Lạy Cha trích từ tác phẩm (1787) “Saggio practicco delle Lingue con prolegomeni e una raccolta di orazioni dominicali in più di trecento lingue e dialetti” (Giới thiệu kinh Lạy Cha qua hơn 300 các ngôn ngữ và phương ngữ trên thế giới – NCT): trang 134 ghi lại phần tiếng Việt và các tiếng TQ vào khoảng giữa thế kỷ 18. Để ý hai chữ đầu của bản phiên âm bằng tiếng TQ là cai tien (Tại Thiên). Tác giả là LM dòng Tên Lorenzo Hervás y Panduro (1735-1809), một nhà ngôn ngữ nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị. Bản này rất giống bản KLC 1870 (xem phần dưới) và có tất cả 77 chữ.

LM Philiphê Bỉnh cũng đề cập đến “kinh thiên Chúa” trong “Sách Sổ Sang chép các việc” (1822) cho thấy cách gọi Kinh Lạy Cha không phổ thông vào đầu thế kỷ XIX. Đây có thể cách dùng đặc biệt ở Đàng Ngoài – xem định nghĩa Oraison Domicale của tác giả P. G. Vallot (Hà Nội, 1898). Ở Đàng Trong, LM Béhaine đã ghi Kinh Lạy Cha trong văn bản (Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ, 1774

Kinh Lạy Cha (chữ Nôm 1855)

Quá trình cắt bỏ câu “Quốc Cha trị đến” trong KLC còn có thể giải thích như theo kinh của giáo hội Mormon (the Book of Mormon) bên Mỹ. Trong kinh sách trên (1829), tác giả Joseph Smith thuật lại chuyện nhà tiên tri Lehi đóng tàu ở Bountiful trước khi cả đoàn lên đường sang Mỹ châu. Cũng theo kinh sách trên thì sau khi sống lại, ĐCGS đã đến nhà thờ ở Bountiful để gặp và truyền dạy dân chúng địa phương về giáo lý CG, thành ra không cần phải nhắc lại chuyện “Quốc Cha trị đến”.

KLC in năm 1891 trong cuốn “The Lord’S Prayer in Five Hundred Languages” (KLC dịch ra 500 ngôn ngữ/NCT) của nhà Đông phương học Reinhold Rost (1822-1896).

có tất cả So với bản năm https://antontruongthang.com/suy-ni%E1%BB%87m/abba-b%E1%BB%91-%C6%A1i-kinh-l%E1%BA%A1y-cha-pater-noster/ 1905/1908 (chép lại từ bản 1891 – xem phần trên) trích từ trang này https://archive.org/stream/lordsprayerinfiv00rost#page/10/mode/2up 70 chữ (không có 2 chữ A men).

Lạy cha chúng tôi ở trên trời, chúng tôi nguyện danh cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Vâng ý Cha làm dưới đất bằng trên trời vậy. Xin Cha cho chúng tôi rày hằng ngày dùng đủ. Và tha nợ chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi. Lại chớ để chúng tôi phải sa cám dỗ, bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ.

2.11 KLC (từ Ma-Thi-Ơ 6:9) năm 1925 và năm 1934

, có tất cả Trích từ trang http://bibleglot.com/read/Viet/ 67 chữ.

Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; Ý Cha được nên, ở đất như trời! Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày; Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi; Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác!

2.12 KLC năm 1992 (có tất cả 78 chữ)

Lạy cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến. Ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con; xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

Có tất cả 71 chữ hay 72 chữ nếu kể chữ mọi (không có 2 chữ A men).

Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi (mọi) sự dữ.

3. Tài liệu tham khảo chính và ghi chú them

2) Đỗ Quang Chính (1972) “Lịch sử chữ quốc ngữ1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) – 1620-1659” NXB Đuốc Sáng (Sài Gòn).

(1774/Quảng Đông à Địa phận Đàng Trong tái bản năm 1837) “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” 聖教要理國語 viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa. Y Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải, La Vang Tùng Thư xuất bản (Mỹ). Bá Đa Lộc Bỉ Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM – 1999).

4) Roland Jacques (2004) ” Les missionnaires portugais et les débuts de l’Église catholique au Viêt-nam ” (Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam) – NXB Đinh Hướng Tùng Thư (Pháp). Có thể đọc các bài viết của LM Roland Jacques trên mạng như http://www.dunglac.info/index.php?m=home&v=detail&ia=11502

5) Halario de Jesu (thế kỷ XVIII) “Sách Các Phép” bằng 3 thứ chữ Nôm, La Tinh và quốc ngữ. Sách lưu hành nội bộ (1997).

“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).

“Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên – Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).

8) Jean Louis Taberd (1838) – tên Việt là cố Từ – “Dictionarium Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale).

9) Nguyễn Cung Thông (2011) “A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?” – có thể xem toàn bài trên các trang http://www.daophatngaynay.com/vn/tap-chi-dao-phat-ngay-nay/Bai-viet-chon-loc/9925-A-Di-Da-Phat-hay-A-Mi-Da-Phat.html …v.v

(2016) “Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min … Tiếng Việt thời LM de Rhodes” – có thể xem toàn bài trang này (2016) “Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài … thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)” có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyencungthong/ncthong_CachNoiToiTaTaoToP2.pdf http://chimvie3.free.fr/

(2016) “Huyền Tráng, Huyền Tảng hay Huyền Trang? Hiện tượng đồng hóa âm thanh (phần 2)” – có thể tham khảo hai bài viết này trên các trang mạng như http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-qt/con-nguoi-qt/21409-huyen-trang-huyen-tang-hay-huyen-trang-hien-tuong-dong-hoa-am-thanh-phan-2.html

(2015) “Sinh thì là chết?” – có thể tham khảo ba bài viết này (đánh số 11.1 đến 11.3) trên các trang mạng như http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=21612

(2013) “Tản mạn về từ Hán Việt thời-thì” có thể xem toàn bài trang này https://khoahocnet.com/2013/06/15/nguyen-cung-thong-tan-man-ve-tu-han-viet-thoi-thi-phan-6-2/

(2012) “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường tôn giáo – vài vết tích sau thời nhà Nguyên trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.3)” – có thể xem toàn bài trang này http://pgvn.vn/nghien-cuu/201508/Nhung-dot-song-giao-luu-ngon-ngu-Viet-Trung-qua-con-duong-ton-giao-vai-vet-tich-sau-thoi-nha-Nguyen-trong-tu-dien-Viet-Bo-La-phan-1-3-49809/

– Nguyễn Cung Thông/Phan Anh Dũng (2016) “Tản mạn về nghĩa của mực tàu (phần 1)” – có thể xem toàn bài trang này chẳng hạn http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ngon-ngu-hoc/5947-t%E1%BA%A3n-m%E1%BA%A1n-v%E1%BB%81-ngh%C4%A9a-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%B1c-t%C3%A0u-%E5%A2%A8%E8%89%9A-qua-t%E1%BB%AB-%C4%91i%E1%BB%83n-vi%E1%BB%87t-b%E1%BB%93-la-ph%E1%BA%A7n-1.html http://chimviet.free.fr/ngonngu/nguyencungthong/ncthong_TanManVeMucTau1_a.htm

[3] So với bản dịch tiếng Anh thường dùng (khoảng 55 chữ), tiếng Pháp (khoảng 58 chữ), tiếng Bồ-Đào-Nha (khoảng 59 chữ), tiếng Hán (khoảng 55 chữ vào thời LM Matteo Ricci so với khoảng 80 chữ hiện nay) không kể A-men hay đoạn kinh vinh danh ĐCT thêm vào sau này (Doxology).

[5] Kinh Thánh Matthew 6:9-13 ghi nhận KLC, Luke 11:2-4 cũng ghi KLC đơn giản hơn (short form).

[6] Dù hai nhà truyền đạo dòng Tên tiên phong ở TQ là Michele Ruggieri (1543-1607) và Matteo Ricci (1552-1610) đều là người Ý. Điều này cho thấy ảnh hưởng quan trọng của tiếng Bồ-Đào-Nha trong giai đoạn đầu của quá trình truyền đạo ở Đông Á (-m dùng cho -ng). Bồ Hán Từ Điển 葡漢辭典 là cuốn tự điển đầu tiên dùng chữ La Tinh một cách có hệ thống để phiên âm chữ Hán. Các tài liệu về Bồ Hán Từ Điển là từ Viện Ricci, Đại Học San Francisco “Courtesy of the Ricci Institute, University of San Francisco”.

[7] Các giọng ở nam TQ như Mân Nam đọc ất là rit/jit cũng gần giống như diệc. Thời VBL còn ghi nhận chữ nhĩ (mày) 爾 và qua 我 là các giọng nam TQ (td. Triều Châu) so với cách dùng nị và ngọ (giọng Quảng Đông) trong khẩu ngữ tiếng Việt cận đại. Ngoài ra, đoạn liên hệ trong KLC (soạn bởi LM dòng Tên Matteo Ricci) cũng viết là 爾免我債如我亦免負我債者 nhĩ miễn ngã trái như ngã diệc miễn phụ ngã trái giả – cho thấy diệc từng được dùng trong văn cảnh này.

[10] Cũng như tên các bài ca hay thơ, ta thường nhớ tên bài là XYZ – XYZ là các chữ đầu tiên của bài – thay vì tên đ

[13] Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne (Úc) – địa chỉ nguyencungthong@yahoo.com